| Gặp "em bé trong ống nghiệm" đầu tiên của thế giới |
|
Vừa qua, Robert Edward - cha đẻ của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm đã được vinh danh bằng giải Nobel Y học vì đã có đóng góp vĩ đại duy trì nòi giống con người. Nhưng ít ai biết rằng, thành công của ông được bắt đầu từ một cặp vợ chồng mạo hiểm.
Bé gái lịch sử
Đó 2 con người trong số hàng triệu người luôn khát khao được làm cha mẹ sau những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên động vật, thêm vào đó là những phản đối dữ dội của dư luận về vấn đề đạo đức. Anh chị Lesley và John Brown ở Bristol (Anh) là cặp vợ chồng đầu tiên tiến hành dùng phương pháp thụ tinh nhân tạo trên thế giới. Với khao khát được làm cha mẹ đến cháy bỏng nhưng trong suốt 9 năm sau khi lấy nhau, ước mơ này của họ vẫn không thể thực hiện được do chị Lesley bị tắc vòi trứng hai bên. Họ đã nhờ cậy đến rất nhiều bài thuốc và hàng trăm bác sĩ ở các nơi nhưng tất cả đều không mang lại kết quả. Mãi đến năm 1976, anh chị được giới thiệu tới bệnh viện Bourn Hall và biết tới phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm của bác sĩ Patrick Steptoe và Robert Edwards. Mặc dù thời điểm này mới chỉ là giai đoạn thử nghiệm song niềm mong mỏi có con đã khiến anh chị dũng cảm vượt qua nỗi lo sợ và búa rìu dư luận để trở thành những người đầu tiên thử nghiệm. Vào ngày 10/11/1977, chị Lesley trải qua ca thụ tinh nhân tạo đầu tiên trong lịch sử. Trong suốt quá trình mang thai, chị Lesley luôn được chăm sóc kĩ lưỡng, bao gồm việc thường xuyên siêu âm và chọc dò màng ối qua bụng. 9 ngày trước khi chuyển dạ, chị Lesley có dấu hiệu của tăng huyết áp nên các bác sĩ đã quyết định sẽ cho chị sinh theo phương pháp mổ Cezar. Vào đúng 11h 47 phút ngày 25 tháng 7 năm 1978 tại bệnh viện Oldham, Greater Manchester, Anh, cô bé Louise Joy Brown nặng 2,61 kg chào đời khỏe mạnh đã trở thành đứa trẻ đầu tiên được sinh theo phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm trên thế giới. 4 năm sau, em gái của Louise là Natalie Brown cũng được sinh bằng phương pháp này và trở thành đứa trẻ thứ 40 trên thế giới được sinh nhờ vào tiến bộ vượt bậc của y học. Hình ảnh của cô bé Louise xuất hiện trên các trang báo thời điểm đó như một lời khẳng định cho sự thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, mở đầu cho sự ra đời của hơn 4 triệu trẻ em khác trên khắp thế giới bằng phương pháp này, đem đến niềm hạnh phúc cho bao cặp vợ chồng hiếm muộn. Con đường chông gai phát triển Ngày nay, sinh con bằng thụ tinh trong ống nghiệm đã trở thành một phương pháp phổ biến trong đời sống và được nhìn nhận ở góc độ khách quan. 20 năm sau, ngày 30/4/1998, ba em bé từ ba trường hợp thụ tinh nhân tạo thành công đầu tiên ở Việt Nam ra đời. Bằng những tiến bộ của y học, phương pháp này ngày càng được hoàn thiện, giúp việc thụ tinh được diễn ra dễ dàng và hiệu quả hơn trước rất nhiều. Vào thời điểm khi phương pháp này mới ra đời, thụ tinh trong ống nghiệm được thực hiện ở chu kỳ tự nhiên, không dùng thuốc. Các bác sĩ xác định thời điểm chọc hút trứng bằng cách định lượng hoocmon estradiol và hoocmon tạo hoàng thể (LH). Ban đầu, thụ tinh trong ống nghiệm được chỉ định cho các trường hợp bị tắt vòi trứng, sau đó được mở rộng trong các trường hợp khác và đạt được nhiều thành công. Tuy nhiên, thụ tinh trong ống nghiệm vẫn không đạt được kết quả khả quan với những trường hợp vô sinh do nam thiểu tinh nặng, chất lượng tinh trùng thấp hay bất thường về thụ tinh. Chỉ khi kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) do nhà nghiên cứu Gianpiero Palermo tại trường Đại học Vrije Universiteit Brussel (Bỉ) ra đời vào năm 1991 thì việc điều trị vô sinh do nam giới và những bất thường về thụ tinh mới được giải quyết một cách triệt để. Kỹ thuật ICSI, tiêm một tinh trùng trực tiếp vào bào tương trứng, được báo cáo thành công lần đầu tiên năm 1992 tại Bỉ, giúp cho những cặp vợ chồng không muốn dùng tinh trùng hiến tặng vẫn có thể có con bằng chính tinh trùng của người chồng. ICSI hiện nay đã trở thành kỹ thuật phổ biến, chiếm hơn 50% các trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm và không thể thiếu ở hầu hết các trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm trên thế giới. Tại Ðông Nam Á, ICSI đã được báo cáo thành công vào năm 1993 ở quốc gia đầu tiên ở Châu Á là Singapore.
Theo: Tin sức khỏe Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|






























