| Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần II - 8 |
|
Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương - Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin Thật là tiện lợi! Nếu theo phương pháp giải đoán của ông Thiệu Khang Tiết. Bởi vì, với phương pháp giải đoán này, quả thật là người ta không cần đến hệ thống ký hiệu theo thứ tự của Hậu thiên Bát quái. Giả thiết về một luận điểm giải bỏ phần nhập dực trong kinh văn chu dịch và mâu thuẫn của nó. Kinh Dịch đầy những mâu thuẫn đã trình bày ở trên thuộc về những tiền đề căn bản của nó. Đó là những mâu thuẫn không thể lý giải. Nhưng ngay cả khi ứng dụng kinh Dịch với những hiện tượng thuộc phạm trù của nó như thiên văn, y lý, lịch số cũng xuất hiện mâu thuẫn giữa hiệu quả thực tế với khoảng trống lý thuyết liên hệ. Những mâu thuẫn chủ yếu và cũng là nguyên nhân của sự huyễn ảo xuất phát từ phần Thập dực trong kinh văn (*) của kinh Dịch. * Chú thích: Trong một số sách liên quan đến kinh Dịch phân biệt phần Kinh gồm: Soán từ, Hào từ- được coi là của Chu Văn Vương, Chu Công; phần Truyện gồm: Thập dực – được coi là của Khổng tử. Trong sách này gọi chung là “kinh văn” gồm: Soán từ, Hào từ, Thập dực; phân biệt với phần ký hiệu trong kinh Dịch gồm: Bát quái và hệ thống quẻ. Chính từ phần Thập dực – được coi là của Khổng tử sáng tác – và những nhận dịnh bắt đầu từ những nhà nghiên cứu Hán Nho đã tạo nên lịch sử kinh Dịch và nội dung bí ảo của nó. Trong Thập dực thì phần Thuyết quái là phần bí ảo nhất và cũng là phần quan trọng nhất. Nội dung của Thuyết quái cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Có người coi thuyết quái có yếu tố sấm vĩ, có người cho nó mang tính bói toán. Đã có học giả coi Thuyết quái là dị đoan, không dịch ra Việt ngữ như trường hợp bản Chu Dịch của Phan Bội Châu. Cũng có học giả bỏ một phần của Thuyết quái như trường hợp cuốn Kinh Dịch – Đạo của người quân tử của học giả Nguyễn Hiến Lê, ông chỉ trích dẫn và dịch một số đoạn ra Việt ngữ. Hoặc cũng có trường hợp không dịch ra Việt ngữ toàn bộ phần Thập dực như trường hợp cuốn Kinh Dịch – Cấu hình tư tưởng Trung Quốc của hai học giả Dương Ngọc Dũng & Lê Anh Minh… Trong khi bị giam ở ngục Dữu Lý, có thể ông (tức Chu Văn Vương) đã làm việc trùng quái và chắc chắn là ông đã đặt tên và tìm nghĩa cho 64 quẻ, rồi viết Thoán từ cũng gọi là Quái từ (trong sách này gọi là Soán từ) cho mỗi quẻ. Nhờ ông mà ý nghĩa mỗi quẻ mới tinh diệu, lời đoán mới tương đối minh bạch, mà công việc đoán cũng nhất trí hơn trước, không còn có cảnh mỗi quan Thái bốc đoán theo ý riêng của mình nữa. Trang 38: Văn Vương mới chỉ đặt ra Thoán từ để giải nghĩa toàn quẻ. Chu Công đặt thêm Hào từ cho mỗi hào của mỗi quẻ, cộng là 384 hào, để giải nghĩa từng hào một. Chẳng hạn quẻ Càn, dưới Hào sơ (Hào 1), Chu Công viết: “Tiềm long vật dụng”, nghĩa là: rồng còn ẩn náu, không dùng được. (Lược phần trích dẫn hào 3) Tới đây Chu Dịch mới thành một cuốn sách có văn từ, nghĩa lý, đời sau gọi là Kinh và chia làm hai thiên: thượng cho 30 quẻ đầu, hạ cho 34 quẻ sau. Nhưng lời thoán và lời hào vẫn quá giản áo, ít ai hiểu nên đời sau phải chú thích làm thêm bảng Thập dực. Thập là 10, Dực là cánh con chim, có ý bảo Thoán từ của Văn Vương, Hào từ của Chu Công đặt ở dưới mỗi quẻ, mỗi hào, là đủ hình con chim rồi, bây giờ thêm Thập dực, là thêm lông cho con chim. Qua đoạn trích dẫn trên, liên hệ với các đoạn trích dẫn khác trong sách này, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: theo cổ thư chữ Hán thì trước Văn Vương và Chu Công, kinh Dịch chỉ gồm ký hiệu (?), sau đó mới có Soán từ và Hào từ; nhưng nội dung rất khó hiểu. Bởi vậy, cũng theo cổ thư chữ Hán – Khổng tử mới thêm phần Thập dực vào để giảng rõ nghĩa và làm phong phú cho nội dung kinh Dịch. Chính phần Thập dực này làm nên lịch sử kinh Dịch đã trình bày ở trên. Mặc dù lịch sử đó đầy mâu thuẫn, nhưng là linh hồn của kinh Dịch và là cũng là sự ứng dụng sinh động của nó. Nay bỏ Thập dực, Chu Dịch sẽ không nói lên điều gì. Những dấu ấn của xã hội Trung Hoa cổ trong kinh văn Chu dịch? Trong kinh văn kinh Dịch có những có những dấu ấn của xã hội Trung Hoa cổ. Đây cũng là những hiện tượng trong nội dung cùng với hình thức diễn đạt bằng Hán tự cho những cổ thư liên quan đến kinh Dịch. Có thể coi đó là sự bảo chứng về nguồn gốc kinh Dịch thuộc về văn minh Hoa Hạ. Những dấu ấn này được thể hiện như sau: @ Trong kinh văn thường xuất hiện chữ “Tử viết”; được coi là chỉ ngài Khổng tử. Thực ra từ này cũng có thể hiểu như sau: “Tử viết” không đủ yếu tố để khẳng định là chỉ ngài Khổng tử, khi trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn cũng nhiều lần dùng từ “Tử viết” hoặc “phu tử”. @ Hệ từ thượng chương XI – tiết 8: Thị cố tiên sinh thần vật, thánh nhân tắc chi, thiên địa biến hoá, thánh nhân hiệu chi, thiên thuỳ tượng hiện cát hung, thánh nhân tượng chi, Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi. Hà được coi là sông Hoàng Hà, Lạc được coi là sông Lạc Thủy, hai địa danh ở miền Bắc Trung Hoa. Hệ từ hạ chương II – tiết 5 viết: Thần Nông thị một, Hoàng Đế , Nghiêu, Thuấn thị tác, thông kỳ biến, sử dân bất quyện, thần nhi hoá chi, sử dân nghi chi. Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu; thị dĩ tự thiên hựu chi, cát vô bất lợi. Hoàng Đế , Nghiêu, Thuấn quải y thường nhi. Thiên hạ trị. Cái thủ chư kiền khôn. Chương V – tiết 12: Tử viết: Nhan thị chi tử, kỳ đải thứ cơ hồ, hữu bất thiện vị thường bất tri; tri chi vị thường phục hành dã. Dịch viết: Bất viễn phục, vô chỉ hối, vô cát. “Nhan thị chi tử” được coi là chỉ ngài Nhan Hồi, một học trò giỏi của Khổng tử. Chương XI – tiết 1: Dịch chi hưng dã, kỳ đương Ân chi mạt thế, Chu chi thịnh đức da? Đương Văn Vương dữ Trụ chi sự da? Thị cố kỳ từ nguy. Nguy dã, sử bình, dịch dã sử khuynh. Kỳ đạo thậm đại. Bách vật bất phế, cụ dĩ chung thuỷ, kỳ yếu vô cữu. Thử chi vị Dịch chi đạo dã. Những từ Ân, Chu chỉ thời đại nhà Ân Thương và nhà Chu. Văn Vương là vua đầu triều Chu và Trụ là vua cuối triều Ân Thương. Cũng có câu tương tự như trên trong chương VI – tiết 1: Dịch chi hưng dã, kỳ ư chung cổ hồ? Tác Dịch dã, kỳ hữu ưu hoạn hồ. Quẻ thái – Hào từ Vua Đế Ất nói trên được coi là thời Tổ Ất nhà Ân Thương. Quẻ tùy Đất Mân là địa danh ở vùng Phúc Kiến ngày nay. Vào thời Chu, đất Mân không thuộc về Hoa Hạ. Không rõ vua nào trong sử Trung Hoa chạy loạn từ đất Mân, có dân chúng chạy theo qua Tây Sơn. Chữ “hanh” theo giáo sư Bùi Văn Nguyên thì là sự chép nhầm từ chữ “hưởng” - có nghĩa là tế lễ - và chữ “vương” được hiểu là vua Chu Văn Vương. Quẻ thăng Kỳ Sơn là một địa danh của Trung Hoa, ở Tây Bắc sông Dương Tử. Người viết cho rằng nghĩa Hào Lục tứ, quẻ Thăng có thể hiểu như sau: một hòn núi lạ (kỳ sơn – có thể là hòn non bộ làm tặng vua) dâng lên vua dụng hưởng, tốt, không có lỗi. Quẻ quy muội Quẻ ký tế Vua Cao Tôn – theo giáo sư Bùi văn Nguyên trong Kinh Dịch Phục Hy – (sách đã dẫn, trang 130) thì vua Cao Tôn nhà Ân Thương tức là vua Vũ Đinh, con Đế tiểu Ất, cháu vua Bàn Canh. Vũ Đinh có đánh dẹp quanh Động Đình Hồ đến vùng Quí Châu (phần đất của Văn Lang, Nam sông Dương Tử – theo truyền thuyết). So sánh với tài liệu của cụ Biệt Lam Trần Huy Bá thì vua Vũ Đinh còn gọi là vua Ốc Đinh; tương đương với thời Hùng Vương thứ 6 của Văn Lang. Tài liệu sưu tầm của cụ Biệt Lam Trần Huy Bá viết: 6. Chi Ly: Hùng Hồn Vương, huý Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr. Tây Lịch), lên ngôi khi 29 tuổi, truyền hai đời vua, ở ngôi tất cả 81 năm đều xưng Hùng hồn Vương, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr. Tây lịch) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr. Tây lịch). Ngang với Trung Quốc vào thời Ốc Đinh nhà Thương. Người viết cho rằng Hào Cửu Tam, quẻ Ký Tế có thể hiểu theo nghĩa sau: Vua Cao Tôn đánh nhau ở vùng Quỷ, sau ba năm bị thua (khắc chi – gãy cành), vì dùng tiểu nhân. Lại phong Lộc Tục là Kinh Dương Vương để cai trị đất Nam, lấy hiệu là Xích Quỷ. Sự tổng hợp những dấu ấn liên quan đến lịch sử, địa danh Trung Hoa trong Chu Dịch được trình bày ở trên đã chứng tỏ những dấu ấn đó rất mơ hồ, không đủ sức thuyết phục so với những mâu thuẫn không thể lý giải trong kinh Dịch.
Tin cũ hơn:
|




























