| Viêm gan Vi rút |
|
|
|
| Thứ tư, 07 Tháng 4 2010 14:28 | |||
|
VIÊM GAN VI RÚT
1. Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1. Đại cương: Viêm gan vi rút là bệnh truyền nhiễm phổ biến, do vi rút A, B, C, D, E gây nên, lây theo đường tiêu hóa hoặc đường máu, khi tản phát, khi thành dịch. Có thể gây viêm gan vi rút cấp tính hoặc viêm gan vi rút mạn tính. 1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: 1.2.1. Nguyên nhân: Do các loại vi rút gây bệnh, hiện nay chia 5 loại vi rút A, B, C, D, E gây nên viêm gan A, viêm gan B, viêm gan C...nhưng hay gặp nhất là viêm gan A, viêm gan B, viêm gan C. 1.2.2. Cơ chế bệnh sinh: chưa hiểu biết rõ, tạm chia 6 thời kỳ: - Vi rút từ đường tiêu hóa, đường máu nhập vào cơ thể (thời kỳ lây bệnh). - Vi rút tăng sinh ở hệ tiêu hóa (dạ dày, ruột) sau đó trong hạch bạch huyết, mạc treo (thời kỳ nung bệnh) - Nhiễm vi rút huyết tiên phát, vi rút từ hạch bạch huyết tỏa ra máu (thời kỳ tiền vàng da). - Vi rút lan tỏa tới các nhu mô: từ máu, vi rút nhập các phủ tạng đặc biệt gan tăng sinh gây tổn thương và rối loạn chức năng gan, hoặc từ tế bào viêm mô liên kết, ứ mật, rối loạn chuyển hóa, với các triệu chứng của thời kỳ vàng da. - Nhiễm vi rút huyết thứ phát: từ gan, vi rút lại nhập dòng máu gây bột phát, tái phát hay biến chứng của bệnh. - Kết thúc: khỏi bệnh hoặc viêm gan mạn, xơ gan tử vong 1.3. Triệu chứng lâm sàng: Căn cứ vào đường lây, triệu chứng tiến triển, tiên lượng: * Theo đường lây: - Viêm gan truyền nhiễm (lây đường tiêu hóa) - Viêm gan huyết thanh (lây qua tiêm truyền) - Nếu không phân biệt được gọi chúng là viêm gan vi rút * Theo triệu chứng: - Thể ẩn - Thể không vàng da - Thể vàng da: điển hình hoặc ứ mật * Thể tiến triển: - Thể cấp - Thể mạn lành tính hoặc tiến triển (với bột phát, tái phát) - Theo tiên lượng: thể nhẹ, vừa, nặng và rất nặng. 1.4. Chẩn đoán: 1.4.1. Chẩn đoán xác định: Căn cứ dịch tễ, lâm sàng và xét nghiệm: - Dịch tễ: do tiếp xúc với bệnh nhân viêm gan. Bệnh lác đác cách 1 - 2 tuần có một người hoặc hàng loạt (2 - 8 tháng sau đợt tiêm chủng quy mô ở đơn vị) - Lâm sàng: nhiễm độc hoàn toàn, rối loạn tiêu hóa, triệu chứng gan mật diễn biến theo chu kỳ. - Xét nghiệm: bạch cầu giảm, đa nhân trung tính giảm. Tốc độ lắng máu giảm chậm. Urobilin và Bilirubin niệu dương tính, Bilirubin máu tăng, Transaminaza nhất là SGPT tăng cao. Đặc biệt có giá trị quyết định là kháng nguyên Australia (+) trong giai đoạn đầu của viêm gan ri rút B. 1.4.2. Chẩn đoán phân biệt: * Vàng da hoặc viêm gan nguyên nhân khác, đặc biệt do hóa chất: Ứ mật do steroit (dethylotibestro, methyltesrone): vàng da kéo dài, toàn thân và chức năng gan bình thường. - Viêm gan ứ mật dị ứng do aminnazin: có ban da. Bạch cầu của Eosin tăng men transaminaza tăng ít, photphataza kiềm tăng nhiều. Phản ứng lên bông bình thường. - Viêm gan nhiễm mỡ do Tetraxyclin, Cloromyxetin tiêm tĩnh mạch. * Các đợt tiến triển của viêm gan mạn tấn công hoặc xơ gan hậu hoại tử: Có thể đã có tiền sử vàng da, được chẩn đoán là viêm gan vi rút cấp. - Lâm sàng và xét nghiệm hoàn toàn như một viêm gan vi rút cấp. Diễn biến thường kéo dài và thành đợt, có thể hướng về viêm gan mạn tấn công nếu luôn luôn thấy gan to chắc, lách chắc hoặc thêm: sao mạch, tuần hoàn bàng hệ, cổ chướng, chảy máu đường tiêu hóa không phải do viêm loét dạ dày tá tràng. - Xét nghiệm: phản ứng lên bông bệnh lý rõ rệt và thường xuyên, men gan có thể tương tự của viêm gan vi rút cấp. Đặc biệt giá trị cao của kháng nguyên australia (+) qua nhiều lần kiểm tra. Soi ổ bụng và sinh thiết gan có giá trị chẩn đoán quyết định: soi ổ bụng: mặt gan mất bóng nhẵn, bờ vênh, sắc vàng (viêm gan mạn hoặc màu nhạt, mặt lổn nhổn, nhiều tái tạo (xơ gan). - Sinh thiết: trong viêm gan mạn, viêm quanh khoang cửa và tiểu thùy, ranh giới giữa các tiểu thùy không rõ. Hiếm tế bào gan hoại tử. Còn trong xơ gan, cấu trúc đảo lộn, mô xơ tăng chung quanh tiểu thùy, tế bào gan thoái hóa mỡ. - Vàng da do nguyên nhân cơ giới (sỏi đường dẫn mật, ung thư đầu tụy hoặc bóng vater...) Giống viêm gan cấp thể vàng da ứ mật ở các điểm: - Vàng da tăng dần dần đến ứ mật, nhiễm độc do ứ mật, ngứa da, mạch chậm...Bilirubin niệu (+++), Urobilin và Strecobilin âm tính, Photphataza kiềm tăng cao. Nhưng khác nhau ở một số điểm: - Viêm gan ứ mật, diễn biến theo chu kỳ, bạch cầu giảm, điều trị thử bằng Corticoit giảm nhanh vàng da và bệnh khỏi về lâm sàng. - Vàng da do sỏi đường mật: còn đau (+) vàng da (+) sốt xuất hiện đột ngột, giảm nhanh diễn biến đột ngột nhiều đợt, đồng thời bạch cầu cao, chuyển trái, còn chức năng gan, men gan ít biến đổi, giá trị chẩn đoán của X quang đường dẫn mật. Điều trị thử bằng Corticoit tác dụng tạm thời hoặc không 1.5. Điều trị: 1.5.1. Nguyên tắc điều trị: - Khi phát hiện ra một ca viêm gan, phải cách ly và điều trị, không để ở đơn vị. Thể nhẹ điều trị tại Bệnh xá Trung đoàn, Sư đoàn. Thể vừa, nặng điều trị tại Bệnh viện. - Nguyên tắc điều trị là nhằm hạn chế quá trình nhiễm độc, dị ứng, viêm nhiễm, hủy hoặc nhu mô tăng cường các quá trình hồi phục, phòng và chống dị ứng...chủ yếu là nghỉ nghơi, dinh dưỡng, vitamin tránh lạm dụng thuốc. 1.5.2. Điều trị thể viêm gan vừa, nặng thường gặp: Đến nay chưa có thuốc đặc trị, kháng sinh không tác dụng. Các biện pháp chính là nghỉ ngơi, dinh dưỡng: glucoza, vitamin, nếu cần thêm Corticoit. * Nghỉ ngơi: Nằm giường 1 - 2 tuần đầu của giai đoạn cấp, tránh hoạt động, rèn luyện, sau đó vận động rèn luyện nhẹ, tăng dần nhưng không gây mệt mỏi, tránh bị lạnh. * Dinh dưỡng: Ăn nhẹ trong vài ngày hoặc tuần đầu: hoa quả, nước hoa quả, cháo đường, sữa chua, hoặc khi hết nôn, ăn được thì cho ăn cháo, phở thịt nạc. Khi ăn biết ngon, đảm bảo đủ bột, đam, béo. Gluxit: 400 - 500g/ngày (trong đó có đường, glucoza, mật là 100 - 200g). Protit: 1 - 1,5g/kg cơ thể/ngày (thịt, cá, trứng). Lipit: 50 - 80g/ngày (dầu thảo mộc như lạc, đậu cám...không dùng mỡ động vật). Thức ăn luộc, nướng. Tránh thức ăn rán, không dùng tinh chất thịt, thức ăn lên men chua, sấy khô, đồ hộp, chất cay, ăn muối không hạn chế, hàng ngày 10 - 15g là đủ, không uống rượu. * Vitamin: Hỗn hợp Vitamin B và C B1: 0,01: ngày 2 - 3 viên x 20 - 30 ngày B2: 0,005: ngày 2 - 3 viên x 15 ngày. B6: 0,05: ngày 2 - 3 viên x 30 - 60 ngày. B12: 100 - 200 gama cách nhật (liều cao hơn, vô ích). Vitamin C: 300 - 500 mg/ngày, có thể tới 1000mg. Vitamin K: 30 - 100g/ngày, tiêm bắp thịt trong thể gan nặng, ứ mật. * Glucoza: 50 - 100g/ngày là đủ. Uống pha loãng, cần lắm mới tiêm truyền trong một số ngày đầu, khi không ăn được, uống dễ nôn. Các thuốc kỵ mỡ như: Methionin, colin, lifocain, campolon và các tinh chất gan khác: không có tác dụng có thể còn gây hại. Với một số trường hợp nặng kéo dài dùng thêm Corticoit (Predinizolon uống, ACTH - coctizon tiêm). Phải dùng sớm, với liều trung bình. Ví dụ: Predinizolon bắt đầu bằng 25 - 30mg giảm dần 5 - 10mg sau 5 - 7 ngày thời gian 20 - 30 ngày. * Các thuốc điều trị khác: - Lợi mật: Magie sunphat, Natri sunfat chống táo bón - Lợi niệu: uống nhiều nước, lợi niệu thảo mộc, râu ngô, rau má, không dùng lợi niệu mạnh. - Interferon: đã được sử dụng trong lâm sàng điều trị viêm gan B mạn tính liều lượng từ 3 MIU/24h x 14 ngày cho đến 5 MIU/24h x 4 tháng. Liều lượng khuyến nghị hiện nay là 4,5 MIU (2,5 MIU/m2), mỗi tuần 3 lần trong 6 tháng. Đến nay, ở một số nước thường dùng Interferon phối hợp với một số thuốc tăng cường đáp ứng sinh học cho cơ thể như Thymosin - α. 1.5.3. Điều trị cấp cứu loạn dưỡng gan cấp, bán cấp: Ngay khi chớm các triệu chứng tiền hôn mê, áp dụng ngay những biện pháp điều trị khẩn cấp: - Ngừng thức ăn có protit, thay thế bằng dịch truyền glucoza. - Ngừng lợi niệu mạnh, ngừng tháo dịch cổ trường - Không dung morphin, thuốc co opi. Đồng thời điều trị tổng hợp bằng các biện pháp: duy trị khối lượng máu tuần hoàn, điều chỉnh thăng bằng nước, điện giải, axit - bazow bằng: dung dịch mặn 0,9%, Kali clorua 10%, Nabicarbo 4%. Khối lượng mỗi loại căn cứ vào điện giải đồ. Hạn chế tạo amoniac từ ruột và trung hòa nó. - Khi xuất huyết đường tiêu hóa: rửa dạ dày, thụt ruột nếu cần, cầm máu, bằng biện pháp ngoại khoa. Neomycin 1g x 4 lần/ngày, hoặc Tetracyclin 100mg bắp thịt x 6 lần/ngày. - Truyền axit glutamic 4% hoăc glutamic...không được đề cao như trước kia. -Tác dụng trên hệ thống động mạch - Vitamin K bắp thịt - Vitamin C liều cao. Hemocapron 2 - 4 ống/ngày truyển trộn với glucoza, fibrio tĩnh mạch... Các biện pháp khác: - Liệu pháp oxy, đảm bảo không khí - Chống kích động giãy giụa bằng piponphen, hạn chế dùng andaxin, gacdenan, aminnazin. Các biện pháp mạnh mẽ khác như: Corticoit liều cao, truyền máu thay thế, truyền máu chéo, oxy cao áp, thẩm phân phúc mạc tuần hoàn. Qua gan lơn truyền Lidopa - chưa giảm được tỳ lệ tử vong còn quá cao (bằng hay lớn hơn 89%) và được đánh giá khác nhau. 1.5.4. Tiêu chuẩn ra viện - Sức khỏe hồi phục, tiêu hóa bình thường, hết vàng da. - Men Trasaminaza máu bình thường, hoặc không quá 2 lần mức bình thường Bilirubin máu, phản ứng lên bông trở lại bình thường - Thời gian điều trị với thể nhẹ 1 tháng, thể vừa 1,5 - 2 tháng, thể nặng 2 - 3 tháng hoặc hơn. 2. Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.1. Bệnh danh: Thuộc vào phạm trù "Đau sườn", "Hoàng đản", "Cấp hoàng", "Ôn hoàng " của Y học cổ truyền. 2.2. Biện chứng luận trị: 2.2.1. Thể Thấp nhiệt ứ kết: * Chứng trạng: Mặt mắt và da của toàn thân phát vàng, bụng chướng đầy khó chịu, buồn nôn, nôn mửa, miệng đắng, sốt, tiểu đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, chất lưỡi đỏ, mạch huyền hoạt sác. Phần nhiều thấy ở viêm gan loại Hoàng đản cấp tính. * Pháp điều trị: Thanh lợi thấp nhiệt * Bài thuốc: Nhân trần cao thang gia giảm (Thương hàn luận) - Nhân trần cao 60g - Điền cơ hoàng 30g - Sơn chi 12g - Bản lam căn 30g - Sinh đại hoàng 09g - Bán hạ 09g - Kim tiền thảo 30g - Trần bì 06g * Ý nghĩa bài thuốc: - Nhân trần cao: Thanh lợi thấp nhiệt, lượng dùng có thể cao tới 90g - Kim tiền thảo: Lợi mật thanh nhiệt, lượng dùng thường 30 - 60g Hai thuốc cùng dùng, lại gộp với các thuốc hòa vị như Bán hạ, Trần bì, vừa có công hiệu chữa Hoàng đản, lại không làm vị hư. - Sơn chi, Đại hoàng: Thanh nhiệt tả hạ - Điền cơ hoàng, Bản lam căn thanh nhiệt giải độc trừ Hoàng đản, nếu nhiệt thiên thịnh, có thể thêm Hoàng liên, Hoàng cầm, Lô căn tươi; Nếu thấp nhiệt thiên nặng, có thể thêm Thương truật, Trư linh, Hoạt thạch, Xa tiền tử... khiến cho tà của thấp theo tiểu tiện mà ra ngoài. 2.2.2. Thể Can uất khí trệ: * Chứng trạng: Ngực sườn chướng đau và bụng chướng đầy, ợ hơi nóng luôn, ăn kém vô lực, sốt miệng khát, đi ngoài bí kết, rêu lưỡi vàng mỏng hoặc nhớt, mạch huyền sác. Phần nhiều thấy ở viêm gan loại cấp tính không có Hoàng đản. * Pháp điều trị: Sơ can lý khí, thanh nhiệt * Bài thuốc: Sài hồ sơ can tán gia giảm (Cảnh Nhạc toàn thư) - Sài hồ 09g - Hương phụ 09g - Chỉ thực 09g - Xuyên khung 06g - Hậu phác 06g - Bạch thược 12g - Cam thảo 06g - Trần bì 06g - Điền cơ hoàng 30g * Ý nghĩa bài thuốc: Trong bài thuốc "Sài hồ sơ can giải uất", "Bạch thược dưỡng huyết nhu can", hai thuốc phối hợp ứng dụng, một mặt có thể dưỡng can huyết, bổ can âm, dùng nó để bổ can và huyết ở can, can khí được sơ thông, can huyết được bổ thì khí huyết điều hòa, mới có thể phát huy càng tốt hơn công dụng sơ tiết của can, là một nhóm thuốc chủ yếu trong bài thuốc; Chỉ thực, Trần bì, Hương phụ lý khí tiêu trướng, Xuyên khung hoạt huyết, Hậu phác trừ thấp, Điền cơ hoàng thanh nhiệt hoạt huyết giải độc, các thuốc phối hợp khiến cho can uất được giải, can huyết được bổ, can nhiệt được thanh, thì các triệu chứng tự khỏi. 2.2.3. Thể tỳ hư thấp trệ : * Chứng trạng : Sắc mặt vàng xanh, chân tay cơ thể mệt mỏi, sườn bụng chướng đầy không thoải mái hoặc ngâm ngẩm đau, ăn kém phân nát, rêu lưỡi nhớt, chất lưỡi nhạt, mạch nhu hoãn. Phần nhiều thấy ở viêm gan mãn tính hoặc viêm gan hoạt động. * Pháp điều trị : Kiện tỳ hóa thấp. * Bài thuốc :Hương sa lục quân tử thang gia giảm (Thời phương ca quát). - Đẳng sâm 09g - Bạch truật 09g - Phục linh 12g - Bán hạ 09g - Trần bì 06g - Mộc hương 06g - Sa nhân 03g (Cho vào sau ) - Hoài sơn dược 12g - Cốc mạch nha Mỗi thứ 15g - Sinh, Thục, Mễ Nhân mỗi thứ 12g *Ý nghĩa bài thuốc : Trong bài thuốc :Đẳng sâm đại bổ nguyên khí, kiện tỳ dưỡng vị, là thuốc chủ yếu; Tỳ thích táo, ghét thấp, Tỳ hư kém vận hóa, thường dễ sinh thấp, do vậy lấy Bạch truật kiện tỳ ích khí, táo thấp. Hoàng Cung Tú nói :"Phục linh nhập tứ quân, làm tá cho Sâm, Truật để thảm thấp của Tỳ" . Trương Bình Thành cũng nói : "Thảm thấp trọc của Phế Tỳ lưu thông xuống, sau đó kết hợp tác dụng của Sâm, Truật càng làm tăng tác dụng";Bán hạ, Trần bì hóa vị lấy khí hóa thấp, Mộc hương, Sa nhân hành khí tỉnh Tỳ; sơn dược, Cốc Mạch nha, Sinh thục, Mễ Nhân kiện tỳ hòa vị hóa thấp. Bài thuốc này chữa trị bệnh can, có ý :"Thấy bệnh của can, do can khắc tỳ, nên trước hết kiện Tỳ". 2.2.4.Thể khí trệ huyết ứ : * Chứng trạng : Sắc mặt sạm, hạ sườn chướng đau hoặc nhói đau, hoặc có cục tích, ngực bụng bí chướng, phần cổ, phần cánh tay có thể thấy các sao mao mạch, ô mô cái của lòng bàn tay đỏ, mũi, chân răng chảy máu, lưỡi đỏ sạm, mạch tế sáp, Phần nhiều thấy ở viêm gan hoạt động mãn tính và cơ thể của người viêm gan dạng tiến triển. * Pháp điều trị: Hành khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc * Bài thuốc: Hóa ứ thang gia giảm - Đương quy 12g - Đan sâm 12g - Uất kim 10g - Đào nhân 09g - Hồng hoa 09g - Sơn giáp phiến 09g - Thanh bì 06g - Xích thược 09g - Mẫu lệ 30g (sắc trước) * Ý nghĩa bài thuốc: Tà của thấp nhiệt nhập vào trong, can mất đi tính chất điều thông, bệnh lâu ngày ảnh hưởng tới huyết, can lạc ứ trệ, chữa nên hành khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc. Trong bài thuốc Đương quy, Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược, Sơn giáp đều là các thuốc hoạt huyết hóa ứ thông lạc nhưng "Khí lưu thông thì huyết lưu thông", "Khí trệ thì huyết ứ", còn cần dùng thêm Thanh bì, Uất kim, để lý khí hóa ứ, Mẫu lệ nhuyễn kiên tán kết. 2.2.5. Thể Can thận âm hư: * Chứng trạng: Sườn đau tức lâm râm, đầu váng tai ù, mắt kèm nhèm, tâm phiền mất ngủ, miêng khô môi ráo, lưng mỏi gối mềm, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền tế sác. Phần nhiều thấy ở viêm gan hoạt động mãn tính. * Pháp điều trị: * Bài thuốc: Nhất quân tiễn gia giảm (Liễu châu y thoại) - Sinh địa 15g - Kỷ tử 09g - Đương quy 09g - Bắc sa sâm 12g - Mạch đông 12g - Bạch thược 12g - Xuyên luyện tử 09g * Ý nghĩa bài thuốc: Bài thuốc này lấy mối quan hệ chế hóa của tạng phủ làm cơ sở xác lập biện pháp điều trị và cấu trúc bài thuốc. vị trí của bệnh chứng này ở Can, chủ yếu là Can Thận âm hư, Can tàng huyết, Thận tàng tinh, Can Thận cùng nguồn gốc, Thận là mẹ của Can, hư thì bổ mẹ, , tư thủy thì có thể làm dưỡng mộc, để làm mềm mại tính hoành nghịch của Can mộc, do vậy lấy Sinh địa, Kỷ tử là thuốc chủ yếu tư dưỡng âm huyết của Can Thận, làm cho huyết được sung túc, thì Can mộc nhu hòa; Phế chịu trách nhiệm về khí của toàn thân, phế khí đẩy đủ thì có thể không điều thủy đạo, các tạng đều được tăng thêm khí huyết để dưỡng Kim chế ước được Mộc. Vị thổ vốn chịu Mộc khắc, làm cho thổ vượng thì không bị sự lan át của mộc, do vậy lấy Bắc sa sâm, Mạch đông thanh phế ích vị; Đương qui nhập can, là thuốc khí trong huyết, bổ huyết hoạt huyết; Xuyên luyện tử sơ can giải uất, điều thông khí cơ, bài thuốc này áp dụng đồng thời dùng 3 phương pháp tư thủy dưỡng mộc, thanh kim chế mộc, bồi thổ ức mộc, tập trung lực lượng để giải quyết quan hệ tương khắc chủ yếu, trong nhiều loại thuốc dưỡng âm thêm một ít thuốc sơ can lợi khí, trong bổ có sơ thông, khiến bổ mà không trệ. 2.2.6. Nhiệt độc hỏa thịnh: *Chứng trạng: Khởi phát bệnh bán cấp, đột nhiên sốt nhẹ, Hoàng đản ngày càng sẫm thêm, sắc vàng đậm, sườn đau bụng đầy, tinh thần không tỉnh táo, nói mê, hoặc thấy đổ máu câm, đi ngoài ra máu, hoặc da xuất hiện ban ứ, chất lưỡi đỏ sẫm, rêu lưỡi vàng khô, mạch huyền hoạt sác. Phần nhiều thấy ở viêm gan nặng. * Pháp điều trị: Thanh nhiệt giải độc, thanh dinh khai khiếu * Bài thuốc: Tê giác tán gia giảm ("Bị cấp thiên kim yếu phương") - Tê giác 03g (mài chiêu uống) - Hoàng liên 03g - Thăng ma 09g - Sơn chi 09g - Nhân trần 30g (bọc sắc) - Sinh đại hoàng 06g - Sinh địa tươi 30g - Đan bì 09g - Xích thược 09g - Sinh cam thảo 09g * Ý nghĩa bài thuốc: Tê giác, Sinh địa, Đan bì, Xích thược tức là Tê giác địa hoàng thang, chuyên được đặt ra chữa tà của ôn nhiệt thiêu đốt ở huyết phận, như Diệp Thiên Sỹ nói: "Nhập huyết rất sợ hao huyết động huyết, cần ngay lương huyết tán huyết". nhân trần, Sơn chi, Đại hoàng tức là Nhân trần thanh cao thang, thanh nhiệt lợi thấp, trong đó Đại hoàng đắng lạnh, để tả nhiệt ở vị đại trường để thông phủ khí, khiên cho thấp nhiệt đi ra theo đại tiện, khi nhiệt độc hỏa thịnh, bất kể có xuất hiện bí đại tiện hay không, đều có thể kịp thời vận dụng Sinh Đại hoàng, trên lâm sàng thấy rõ, trong viêm gan chứng bệnh nặng dùng sơm Đại hoàng, có thể giảm thấp tỷ lệ tỷ vong, đồng thời thêm Hoàng liên, Thăng ma, Cam thảo...để tăng cường lực thanh nhiệt giải độc. Nếu chứng bệnh thấy hôn mê nói sảng, có thể uống thêm An cung Ngưu hoàng hoàn hoặc Chí bảo đan, để thanh nhiệt khai khiếu, cũng có thể tiếp nhỏ giọt vào tĩnh mạch Tỉnh não tĩnh hoặc Thanh Khai linh. 2.2.7. Thể thấp nhiệt ứ trệ: * Chứng trang: Mặt mắt đều vàng , lâu ngày không giảm, khoang bụng chướng đầy hoặc đau, sắc mặt sạm, nấc ợ hơi, miệng khô, đại tiện bí kết, chất lưỡi đỏ tối, rêu lưỡi vàng nhơt, mạch huyền tế. Phần nhiều thấy ở viêm gan tắc mật. * Pháp điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp, hóa ứ thông lạc * Bài thuốc: Nhân trần thanh cao thang ("Thương hàn luận") gộp với Đào hồng tứ vật thang ("Y tông kim giám") gia giảm. - Nhân trần 30g (bọc sắc) - Sơn chi 09g - Đại hoàng 09g - Đào nhân 09g - Hồng hoa 09g - Đương quy 09g - Xích thược 09g - Đan sâm 15g - Sinh địa 15g - Xuyên khung 06g - Phục linh 15g - Mộc thông 03g * Ý nghĩa bài thuốc: Nhân trần cao thang thanh nhiệt lợi thấp, thêm vào Phục linh, Mộc thông để tăng cường sức thanh lợi, dẫn thấp nhiệt ra theo tiểu tiện. Đào hồng tứ vật thang phá huyết trục ứ, gộp cùng dùng với Đại hoàng, chữa ứ và nhiệt kết hợp với nhau, công dụng tiết nhiệt hạ ứ. Cần phân biệt triệu chứng lâm sàng thật vững, bụng chướng đầy, sắc mặt sạm, là đặc trung chỉ định dùng phương pháp tiết nhiệt hóa ứ. 2.2.8. Thể thận âm suy hư: * Chứng trạng: Sườn sau lâm dâm, âm ỉ kéo dài, mặt nặng, hoặc sạm đen, lưng gối mỏi mềm, sợ rét, chân tay lạnh, hoặc di tinh, đới hạ, giai đoạn của viêm gan hoạt động mãn tính, hoặc các ca bệnh có kháng nguyên bề mặt dương tính của viêm gan vi rút loại b. * Pháp điều trị: Ôn dưỡng thận âm * Bài thuốc: Nhị tiên thang gia giảm + Trường hợp kháng nguyên bề mặt của vi rut viêm gan B dương tính, Amino - transferase tăng cao. - Đẳng sâm 09g - Tiên mao 09g - Tiên linh tỳ 09g - Tiểu kiếm thảo 15g - Bình địa mộc 30g - Xuyên liên 03g - Hồ hoàng liên 03g - Thương truật 09g - Khổ sâm 09g - Hổ trượng 15g + Trường hợp kháng nguyên bề mặt của vi rút viêm gan B dương tính Amino - transferase bình thường: - Đẳng sâm 09g - Tiên linh tỳ 09g - Thỏ ty tử 09g - Bình địa mộc 30g - Tiểu kiếm diệp 15g - Xuyên liên 03g - Thương truật 09g - Xuyên thạch hộc 03g - Sinh địa 15g * Ý nghĩa bài thuốc: Đảng sâm bổ trung ích khí; Tiên mao, Tiên linh tỳ, Thỏ ty tử ôn thận trợ dương, bệnh can chữa thận là căn cứ vào lý luận can thận cùng cội nguồn. Bình địa mộc hoạt huyết khu ứ, lợi tiểu giải độc; Tiểu kiếm thảo lương huyết chỉ huyết, Khổ sâm, Xuyên liên, Hồ hoàng liên thanh nhiệt táo thấp; Hổ trượng hoạt huyết, lợi thấp trừ Hoàng đản; Thương truật táo thấp; Thạch hộc, Sinh địa dưỡng âm; Khi dùng thuốc cụ thể nên làm ôn thận mà không khô ráo, nhuận mà không trệ, ngọt mà không đầy chướng. Tóm lại: Chữa trị đối với viêm gan vi rút, vừa phải xem xét phía tà thực, lại không thể quên đi bổ trợ thể tạng chính khí cơ thể suy hư, chứng bệnh cấp nên dùng pháp công gấp, thuốc có tác dụng mạnh, bệnh lâu mạn tính nên bình tĩnh lựa chọn pháp điều trị, cần quan tâm cả bản lẫn tiêu. 2.2.9. Bài thuốc khác: - Thủy bồn thảo hãm nước sôi, mỗi lần 10g, ngày 3 lần - Đan chì can thái hãm nước sôi uống, mỗi lần 1 gói, mỗi ngày 2 -3 lần. 2.3. Phòng bệnh: Viêm gan cấp tính hoặc giai đoạn hoạt động của viêm gan mãn tính sau khi phát bệnh, nên cách ly chừng 30 ngày, người bệnh nên chú ý nghỉ ngơi ăn uống nên thanh đạm là thích hợp. Có thể chọn dùng các vị thuốc phòng ngừa: Nhân trần 30g; Sơn chỉ 10g; Cam thảo 03g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống liền 3 ngày. Hoặc: Bồ công anh 30g; Cam thảo 06g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, uống liền 3 ngày.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|





























