| Lao Ruột |
|
|
|
| Thứ tư, 07 Tháng 4 2010 14:30 | |
|
LAO RUỘT
1. Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1. Đại cương: Lao ruột là tổn thương viêm ruột do trực khuẩn lao BK (Bacil de Koch) của người hoặc bò gây nên. Các thể bệnh của lao ruột: Trước khi có thuốc chống lao đặc hiệu, lao ruột có 2 thể: - Thể lao tiểu tràng, đại tràng có loét: là biến chứng của lao xơ hang đánh dấu bệnh lao đã đến thời kỳ của bệnh nhân chết nhanh vì suy mòn. - Thể lao hồi manh tràng: thể lao cục bộ, tổn thương là một khối u to, biến chuyển rất chậm. Đây có thể lao ngoại khoa (điều trị bằng phương pháp cắt bỏ khối u manh tràng, tử vong cao 25%). Từ khi có thuốc kháng sinh chống lao đặc hiệu: bệnh lao ruột gặp ít hơn và điều trị gần như hoàn toàn bằng nội khoa. 1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: Trong lao ruột, dù tiên phát hay hậu phát, trực khuẩn lao đột nhập vào ruột chủ yếu bằng đường tiêu hóa: - Do ăn uống (lao ruột tiến phát) chỉ có trước đây khi nếp sống văn minh trong ăn uống còn thấp. Các tài liệu có nêu: + Do uống sữa bò tươi lấy từ bò bị lao (hoặc các thành phẩm của sữa như: bơ, kem... ) mà không được tiệt trùng kỹ + Trẻ em bú sữa mẹ bị lao vú hoặc đưa tay vào đồ vật bị nhiễm trực khuẩn lao vào mồm. + Lao ruột tiên phát (lao ở thời kỳ sơ nhiễm) chỉ xảy ra khi có một số lượng lớn BK vào đường tiêu hóa. (Ví dụ: vụ tai nạn Lubech, do uống phải BK nuôi cấy, tưởng là vac xin BCG) - Nuốt đờm có vi khuẩn lao (lao ruột hậu phát sau lao phổi có BK dương tính) Ngoài đường tiêu hóa, BK có thể đến ruột bằng: - Theo đường máu (trong lao kê) - Do tiếp cận: sau lao phần phụ (nữ), sau lao màng bụng. Tuy nhiên sự đột nhập của trực khuẩn lao bằng đường tiêu hóa vào ruột còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: + Số lượng và độc tính của BK (thường đã được giảm nhiếu nếu bệnh nhân được điều trị lao phổi bằng các thuốc chống lao đặc hiệu). + Khả năng tiệt khuẩn của dịch vị (phụ thuộc chủ yếu vào độ toan dạ dày) + Tình trạng niêm mạc ruột, nếu niêm mạc ruột có sẵn tổn thương viêm, là một cơ địa thuận lợi cho lao ruột 1.3. Giải phẫu bệnh lý: Đoạn ruột bị lao thường gặp nhất là hồi manh tràng (85 - 90%), khởi phát bằng những hạt lao, củ lao phát triển dần vào lớp dưới niêm mạc. Các tổn thương này dẫn dẫn bã đậu hóa và phá hủy gây thành những ổ loét nông trên niêm mạc ruột. Song song với quá trình phá hủy đó của bệnh lao còn có quá trình tái tạo sự tăng sản tổ chức, liên kết và cơ để dần dần đưa đến tổn thương xơ hóa. Tùy quá trình phá hủy, hay quá trình tái tạo chiếm ưu thế mà có các thể: - Lao hồi manh tràng thể loét - Lao xơ manh tràng (thường dưới dạng u) - Lao xơ hồi manh tràng đoạn cuối dạng hẹp ruột - Các thể phối hợp 1.4. Chẩn đoán: 1.4.1. Chẩn đoán xác định: Đứng trước các triệu chứng rối loạn cơ năng và thực thể của ruột, nghĩ tới tổn thương ruột. Nhưng muốn xác định tổn thương do lao phải dựa vào 2 hội chứng: hội chứng tổn thương ruột và hội chứng tổn thương lao. 1.4.1.1. Hội chứng tổn thương ruột * Lâm sàng: - Ỉa lỏng dai dẳng không cầm được bằng các thuốc thông thường hoặc táo lỏng xen kẽ - Đau bụng thường xuyên, có vị trí xác định hay không xác định rõ. - Toàn thân: sút kém, biếng ăn, sốt, xanh xao, gầy còm nhanh mà không tìm thấy nguyên nhân nào. - Có hội chứng bán tắc ruột: Koenig rõ ràng, dễ tái phát. - Có khối u ở hố châu phải *Cận lâm sàng: Chụp X quang ruột: - Tiểu tràng: chỗ to, chỗ hẹp lại - Đại tràng: vách manh tràng dày cứng, to ra, nhiễm mỡ nên không nhìn thấy, hoặc chỉ còn một đường nhỏ Baryt đi qua. - Nội soi và sinh thiết đại tràng thấy tổn thương lao. - Xét nghiệm phân: không có gì đặc biệt, chỉ có máu, mủ thì chứng tỏ tổn thương ruột như những nguyên nhân khác. 1.4.1.2. Hội chứng nhiễm độc lao: *Lâm sàng: - Có thể có lao phổi hoặc màng phổi kèm theo. - Sốt rõ hoặc sốt nhẹ về chiều và tối - Ra mồ hôi trộm - Ăn kém - Gầy sút nhanh - Da xanh xao, niêm mạc nhợt - Mệt mỏi bơ phờ *Cận lâm sàng: - Tìm BK trong phân - Soi ruột lấy bệnh phẩm hoặc làm sinh thiết vùng tổn thương rồi cấy mảnh sinh thiết đó hoặc bệnh phẩm để tìm BK Chú ý: Nếu có BK trong phân nhưng đờm âm tính (nếu bệnh nhân có lao phổi) thì càng có giá trị chẩn đoán. Phòng xét nghiệm đã chắc chắn loại trừ các vi khuẩn trong phân kháng cồn kháng toan như các mycobacteri không điển hình. 1.4.2. Chẩn đoán phân biệt: 1.4.2.1. Nguyên nhân gây đâu bụng ỉa lỏng khác: Người lao phổi có thể bị đau bụng, ỉa lỏng vì một nguyên nhân khác như sau: - Nhiễm trùng (ví dụ Salmonella) + Ủ bệnh 12 - 24 giờ + Khởi bệnh: đột ngột, rạo rực, buồn nôn rồi nôn. Đau bụng, ỉa lỏng có khí tới 20 lần trong ngày và đêm. Phần toàn nước, nặng mùi, ít khi có máu. Khát nước, đi tiểu ít, có khi vô hiệu. Sốt cao 39 - 400C, mệt lử, nhức đầu. Chẩn đoán: cấy phân ngay để phân lập Salmonella. - Ung thư manh tràng, đại tràng + Chán ăn, buồn nôn, đi phân táo lỏng xen kẽ + Thường có máu theo phân. Nếu ung thư đại tràng Sigma thì hay đi ngoài giả, mót rặn. + Bụng: sờ nắn thấy có u, thăm trực tràng, âm đạo (nữ) sờ thấy khối u di động + Xét nghiệm phân có máu vi thể. + X quang: khung đại tràng có hình hẹp cứng hay hình khuyết, hình đáy chén, hình càng cua. - Bệnh Crohn (khó phân biệt kể cả lâm sàng, X quang thậm chí giải phẫu bệnh lý cũng khó phân biệt). Tuy nhiên nếu gặp bệnh Crohn thật điển hình có thể phân biệt được nhờ bệnh Crohn có thêm bệnh tích ở đại tràng, hậu môn. Bệnh Crohn có hai nhóm triệu chứng, 2 yếu tố gợi ý chẩn đoán: + Lâm sàng: - Ỉa chảy mạn, phân có mỡ, đi ngoài ngay sau bữa ăn. Phân nước, có khi kèm theo nhầy máu, mủ. - Bệnh tích hậu môn: nung mủ quanh hậu môn, những lỗ rò, nứt nẻ...Thiếu máu, suy mòn, phù dinh dưỡng + X quang chụp ruột: - Tổn thưong khu trú từng đoạn, ngăn cách bằng một đoạn lành. - Hẹp ống ruột của đoạn bệnh lý, đi cùng đoạn trên bị giãn. - Biến đổi của hình ảnh niêm mạc: phù nề với những ổ loét và những hình giả polyp hoặc hình ảnh đường lát đá. + Soi và sinh thiết trực tràng: - Soi trực tràng: có vết xước, loét hình dài và bầu dục. Trực tràng hẹp, thành dày, mấp mô, niêm mạch lấm tấm, rất dễ chảy máu. - Sinh thiết: có tế bào hạt dạng biểu mô và tế bào khổng lồ nhưng không bã đậu hóa - Các bệnh: u amip, áp xe ruột thừa... 1.4.2.2. Bệnh gan nhiễm mỡ: Hay xảy ra ở người bị lao và cũng có thể hiện bằng: - Rối loạn tiêu hóa, biếng ăn, ỉa lỏng, táo bón - Sốt, gầy sút xanh xao - Vàng da - Gan to, không đau, không cứng - Các xét nghiệm về chức năng gan: + A/G (Albumin/Globulin) đảo lộn. + Tỷ lệ Protrombin giảm + Cholesterol ester/Cholesterol toàn phần dưới 60% + Nghiệm pháp Glactoza dương tính + Bilỉubin kết hợp giảm 1.5. Điều trị: 1.5.1. Nội khoa: 1.5.1.1. Chế độ ăn: - Ăn uống cần đủ chất (nhất là đạm, sinh tố) - Thức ăn dạng bột không nên ăn nhiều vì dễ lên men, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và hoạt động. - Ăn hoa quả tươi, sinh tố các nhóm A, B, C, D.. 1.5.1.2. Điều trị nguyên nhân: Dùng thuốc chống lao theo nguyên tắc phối hợp các thuốc, như trong điều trị lao chung: Rifampyxin, Ethambutol, Isoniazid, Streptomixin. - Điều trị tấn công 2 -3 tháng - Điều trị củng cố 12 - 18 tháng, tùy theo thể bệnh Với công thức trên: thể loét tiểu tràng, đại tràng sau 15 - 30 ngày có thể hết ỉa lỏng. Thể hồi - manh tràng dần dần bé lại, 2 - 4 tháng sau thì hồi - manh tràng trở lại bình thường. 1.5.1.3. Thuốc điều trị triệu chứng: - Chống ỉa chảy + Sousnitrat Bismuth: 2 - 4g/24 giờ. Chia 2 - 3 lần trong ngày. + Tanin 2 - 5 g/24 giờ cho đến khi hết lỏng phân + Kaolin 10 - 20 g/24 giờ. - Chống đau bụng: + Atropin ½ mg cho 1 ống tiêm dưới da/24giờ. + Belladon (cồn Belladon 1/10) giọt/24 giờ. 1.5.2. Ngoại khoa: Có chỉ định ngoại khoa trong các trường hợp có biến chứng thủng, tắc ruột. Riêng đối với lao xơ manh tràng thể u, sau 2 - 3 tháng điều trị nội khoa và theo dõi trên lâm sàng xét nghiệm và nhất là X quang mà không có tiến triển tốt cũng cần xét đến chỉ định phẫu thuật. 2. Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.1. Bệnh danh: Thuộc phạm vi "Lao sái", "Tiết tư", "Phúc thống", "Tích trệ" ... của Y hoc cổ truyền. 2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: Do chính khí hư suy, lại cảm nhiễm "Sái trùng", do người bệnh lao phổi khi ho hay nuốt các dịch đờm có sái trùng, hoặc cùng ăn với người bệnh lao phổi, coi thường cách ly tiêu độc, dẫn đến sái trùng xâm phạm đường ruột. Bệnh tuy ở ruột (đại tràng) nhưng có quan hệ mật thiết với tỳ thận, bản bệnh là tỳ thận dương hư suy, khí trệ huyết ứ là tiêu. 2.3. Biện chứng luận trị: 2.3.1. Thể tỳ thận hư nhược *Chứng trạng: Đau bụng thành cơn, phân nát loãng, sắc mặt héo vàng, tinh thần mệt mỏi, eo mỏi chân tay lạnh, rêu lưỡi mỏng, lưỡi nhạt, mạch tế nhược. Phần nhiều thấy ở loại loét nát. * Pháp điều trị: Kiện tỳ ích thận * Bài thuốc: Sâm linh bạch truật tán ("Thái bình huệ dân hòa tễ cục phương") gộp Tứ thần hoàn ("Chứng trị chuẩn thằng ") gia giảm. Đẳng sâm 09g Bạch truật 09g Phục linh 12g Sơn dược 12g Biển đậu 09g Trần bì 06g Bổ cốt chí 09g Ngô thù du 02g Bách bộ 15g Nhục đậu khấu 09g * Ý nghĩa bài thuốc: Tứ quân gộp với Sơn dược, Biển đậu để bổ khí của Tỳ vị; Bổ cốt chỉ tráng hỏa ích thổ; Nhục đậu khấu ôn tỳ thận mà sáp tràng chỉ tả; Ngô thì làm ấm tỳ vị mà tán hàn thấp, Trần bì lý khí, Bách bộ sát trùng diệt khuẩn lao. 2.3.2. Thể khí trệ huyết ứ: *Chứng trạng: Bụng dưới bên phải đau, đau cố định không di chuyển, đồng thời có nổi cục, lưỡi tím sẫm hoặc có điểm ứ huyết, mạch tế sáp. * Pháp điều trị: Lý khí hóa ứ * Bài thuốc: Tứ nghịch tán ("Thương hàn luận") gộp với Thiếu phúc trục ứ thang ("Y lâm cải sái") gia giảm. Sài hồ 09g Chỉ sác 09g Xích thược 09g Bạch thược 09g Bồ hoàng 09g Ngũ linh 09g Xuyên khung 09g Cam thảo 06g Bách bộ 15g Diên hồ sách 12g Một dược 06g *Ý nghĩa bài thuốc: Sài hồ, Chỉ sác, Diên hồ điều thông cơ chế khí; Đương quy, Xích bạch thược, Một dược, Ngũ linh chi, Bồ hoàng, Xuyên khung hoạt huyết khu ứ; Bách bộ diệt khuẩn lao; Cam thảo ngọt ấm ích khí kiện tỳ. 2.3.3. Thể bản hư tiêu thực: *Chứng trang: Đau bụng lâm râm kéo dài, sốt nhẹ, mồ hôi trộm, sắc mặt trắng bệch, lưỡi đỏ, rìa lưỡi có hằn răng cưa, rêu lưỡi mỏng, mạch tế nhược mà sác. *Pháp điều trị: Phù chính khu tà * Bài thuốc: Tần Cửu Miết Giáp tán ("Vệ sinh bảo giám") gộp với Bảo chân thang ("Thập dược thần hư") gia giảm Tân cửu 09g Tri mẫu 09g Đương quy 09g Miết giáp 15g Thanh cao 09g Sài hồ 09g Địa cốt bì 09g Đẳng sâm 09g Hoàng kỳ 09g Bạch truật 09g Sinh địa 12g Thiên đông 09g Bách bộ 15g Xích Bạch thược mỗi thứ 09g * Ý nghĩa bài thuốc: Dùng Tân cửu, Miết giáp tán tư âm giáng hỏa; Bảo chân thang bổ khí dưỡng âm, kèm thanh hư nhiệt; Bách bộ chống lao sát trùng. 2.3.4. Bài thuốc khác: Câm bộ đan (Hoàng cầm, Bách bộ, Đan sâm) mỗi lần 5 viên, mỗi ngày 2 lần, uống sau bữa ăn, 3 tháng là 1 liệu trình. 2.4. Phòng bệnh: - Chú trọng phòng và chữa lao phổi, đối với lao ngoài ruột chẩn đoán sớm và tích cực chữa trị - Sữa trâu bò cần qua tiêu độc diệt khuẩn, khi cùng ăn nên dùng đũa gắp riêng - Tăng cường tuyên truyền vệ sinh đối với người bệnh lao phổi, khi ho không nuốt dịch đờm và chữa cho đi ngoài bình thường.
Tin cũ hơn:
|




























