| U phì đại lành tính tuyến tiền liệt |
|
|
|
| Thứ tư, 17 Tháng 3 2010 11:17 | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
U PHÌ ĐẠI LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
1. Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1. Đại cương: U phì đại lành tính tuyến tiền liệt là một bệnh thường gặp ở nam giới, tuổi cao. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là tiểu tiện không thông lợi, đi tiểu rắt, không đi hết bãi, đi tiểu nhiều lần hoặc có thể bí tiểu. 1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: Nguyên nhân gây bệnh có nhiều giả thuyết, đa số cho rằng do rối loạn nội tiết tố sinh dục nam, đó là sự mất cân bằng giữa Oestrogen và Androgen giảm xuống, trong khi đó Oestrogen không giảm gây nên Oestrogen tăng tương đối. Đồng thời xuất hiện những xơ hóa, hiện tượng này có thể tăng lên do quá trình viêm nhiễm hay do các yếu tố miễn dịch. Tổ chức xơ phát triển đẩy ép các tổ chức xung quanh tạo ra các vỏ bọc quanh tuyến tiền liệt, nếu phát triển về phía bàng quang sẽ tạo thành mảng lồi vào trong bàng quang hoặc phát triển về phía trực tràng sẽ tạo thành mảng lồi vào trong bàng quang hoặc phát triển về phía trực tràng sẽ tạo thành mảng lồi về phía trực tràng. Tuyến tiền liệt càng to càng làm tăng sức cản của niệu đạo gây nên giảm lưu lượng dòng chảy, bàng quang tăng cường co bóp tống nước tiểu dẫn tới thành bàng quang dày lên, xuất hiện cột và hang, nếu kéo dài dẫn tới hiện tượng bàng quang mất bù, xuất hiện nước tiểu tồn dư, lưu lượng nước tiểu giảm, đái nhiều lần, đái khó. Mặt khác tuyến tiền liệt chèn ép vào niệu đạo, cổ bàng quang gây cản trở lưu thông nươc tiểu từ thận xuống bàng quang làm dãn niệu quản, ứ nước tiểu ở niệu quản và thận. Về dịch tễ học: Tần số xuất hiện u phì đại lành tính tuyến tiền liệt tăng lên theo lứa tuổi, không có liên quan gì tới ung thư tuyến tiền liệt. 1.3. Triệu chứng: 1.3.1. Các triệu chứng do kích thích: - Đái nhiều lẫn cả ban ngày và ban đêm - Buồn đi tiểu nhưng không nhịn được quá vài phút Các triệu chứng này càng tăng lên do u chèn ép, có thể do nhiễm khuẩn hoặc rối loạn thần kinh. 1.3.2. Các triệu chứng do chèn ép: Gây đái khó, tia nước tiểu yếu, đái rớt nước tiểu. 1.3.3. Trong giai đoạn biến chứng có thể gặp các triệu chứng sau: Bí đái hoàn toàn hoặc không hoàn toàn, đái rỉ, nhiễm khuẩn tiết niệu. 1.3.4. Khám lâm sàng: - Thăm trực tràng bằng tay là động tác khám cơ bản, phát hiện thấy khối u tròn đều, nhẵn, đàn hồi, đồng nhất, không đau, có rãnh giữa 2 thùy, không có nhân rắn ở các thùy. - Khám bộ phận sinh dục ngoài và khám toàn thân. 1.3.5. Xét nghiệm: - Xét nghiệm sinh hóa, vi khuẩn, kháng sinh đồ. - Xét nghiệm PSA (prostare specific antigen) - Siêu âm: Có thể đo được kích thước tuyến tiền liệt, đánh giá lượng nước tiểu tồn dư ở bàng quang, tình trạng của bàng quang, thận. - Chụp niệu đạo ngược dòng phát hiện hẹp niệu đạo. - Đo lưu lượng nước tiểu: bình thương 15 - 20 ml/giây. Nếu nhỏ hơn 15ml/giây là có cản trở đường đi tiểu. 1.4. Chẩn đoán phân biệt: - Ung thư tuyến tiền liệt. - Viêm tuyến tiền liệt mạn tính - Hẹp niệu đạo, xơ cứng cổ bàng quang 1.5. Điều trị: 1.5.1. Nội khoa: - Thuốc đối kháng alpha - adrepergic có tác dụng làm dãn cơ trơn prazotin, alfurotin, terazotin. - Thuốc tác động vào chuyển hóa androgen: cyproteron acetat, flutamit. 1.5.2. Ngoại khoa: Phẫu thuật bóc khối u, cắt nội soi qua niệu đạo, qua đường rạch từ cổ bàng quang đến ụ núi, nong niệu đạo tuyến tiền liệt. 2. Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.1. Bệnh danh: Bệnh thuộc phạm trù chứng "Long bế". 2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: Theo Y học cổ truyền: ở người bình thường tiểu tiện thông lợi do sự khí hóa của Tam tiêu và có liên quan tới các tạng tỳ, phế, thận. thủy dịch vào nhờ sự vận hóa của tỳ, sự tuyên phát và túc giáng của phế đưa xuống thận thông qua khí hóa của thận mà có sự phân thanh giáng trọc, chất thanh được đưa lên để đi nuôi dưỡng cơ thể, chất trọc đưa xuống bàng quang để tống ra ngoài. Nếu phế mất túc giáng thì không thể thông điều thủy đạo, tỳ mất vận hóa không thể thăng thanh giáng trọc, khí hóa của thận thất thường sẽ ảnh hưởng tới sự khai, hạp và gây nên chứng "Long bế". 2.3. Biện chứng luận trị: 2.3.1. Thể thấp nhiệt: *Chứng trạng: Tiểu tiện không thông lợi, nước tiểu vàng, bụng dưới chướng đau, đại tiện táo, miệng đắng và dính, chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác. *Pháp điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp *Bài thuốc: Bát chính tán ("Thái bình huệ dân hòa tễ cục phương") gia giảm.
*Ý nghĩa bài thuốc: Biển súc, Cù mạch, Mộc thông, Xa tiền tử, Phục linh, Tỳ giải thông bế, lợi tiểu tiện, khiến cho thấp nhiệt theo tiểu tiện mà ra; Sơn chi thanh nhiệt của hạ tiêu; Đại hoàng thông tiện tả hỏa; Thương truật tăng cường tác dụng thanh hóa thấp nhiệt. Các thuốc phối hợp với nhau làm cho thấp nhiệt được thanh trừ, thì tiểu tiện được thông. 2.3.2. Thể ứ trệ: *Chứng trạng: Tiểu tiện nhỏ giọt, đái rắt hoặc bí tiểu, tia nước tiểu nhỏ không mạnh, bụng dưới chướng đầy, chất lưỡi tím tối hoặc có ban, điểm ứ huyết, mạch tế sáp. *Pháp điều trị: Hóa đờm tán kết *Bài thuốc: Đại để đương hoàn ("Chứng trị chuẩn thằng") gia giảm
*Ý nghĩa bài thuốc: Xuyên sơn giáp, Đào nhân, Qui vĩ, Địa hoàng thông ứ tán kết; Ngưu tất tăng cường tác dụng hoạt huyết hóa ứ; Biển súc, Cù mạch thông lợi tiểu tiện; Hoàng kỳ bổ khí, khí lưu thông thì huyết lưu thông, bài thuốc này gộp dùng thuốc hoạt huyết hóa ứ bổ khí, đến khi có thể tiêu trừ ứ huyết của đường tiểu, thì các triệu chứng bệnh sẽ được cải thiện 2.3.3. Thể Trung khí hạ hãm: *Chứng trạng: Lượng tiểu ít mà không thông, người mệt mỏi, ăn không ngon, đoản hơi đoản khí, chất lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch tế vô lực. *Bài thuốc: Đại để đương hoàn ("Chứng trị chuẩn thằng") gia giảm
*Ý nghĩa bài thuốc: Đẳng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Chích thảo, Trần bì bổ trung ích khí; Thăng ma, Sài hồ thăng dương; Tỳ giải, Mộc thông, Biển súc lợi tiểu thông lâm. Các thuốc hợp dùng khiến cho tỳ khí được thăng lên, trọc âm được giáng xuống, thì tiểu tiện thông lợi. 2.3.4. Thể Thận âm bất túc: *Chứng trạng: Tiểu tiện nhỏ giọt không thông lợi, đau lưng ù tai, lòng bàn tay bàn chân nóng, gò má đỏ, miệng khát, chất lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế nhược hoặc mạch xích hư yếu. *Pháp điều trị: Tư âm giáng hỏa. *Bài thuốc: Lục vị địa hoàng thang ("Tiểu nhi dược chứng thực quyết") gia giảm.
*Ý nghĩa bài thuốc: Thục địa, Sơn thù nhục, Sơn dược bổ thận tư âm; Trạch tả, Đan bì, Phục linh thanh tả thận hỏa can hỏa, tả ở trong bổ; Ngưu tất, Xa tiền tử lợi thủy thông lâm; Hạ khô thảo, Sơn tư cô nhuyễn kiên tán kết. Các thuốc hợp dùng, cùng có công dụng bổ thận tư âm, lợi thủy nhuyễn kiên, khiến cho tiểu tiện được thông lợi. 2.3.5. Thể Tỳ thận đều hư: *Chứng trạng: Tiểu tiện rắt, đi không hết bãi, tia nước tiểu không mạnh, lưng gối mỏi yếu, sắc mặt trắng bệch, tinh thần mệt mỏi chân tay lạnh, chất lưỡi bệu nhạt có vết ấn răng, mạch trầm tế. *Pháp điều trị: Bổ thận lợi niệu thông lâm *Bài thuốc: Bổ thận lợi niệu thang
*Ý nghĩa bài thuốc: Bài thuốc này vừa có Đẳng sâm, Hoàng kỳ kiện tỳ ích khí, lại có Nhục quế ôn bổ hạ tiêu, cổ vũ thận khí, và Trạch tả, Phục linh, Xa tiền tử thông lợi tiểu tiện. Theo nghiên cứu của Y học hiện đại: Xuyên sơn giáp, Đào nhân, Hồng hoa, Vương bất lưu hành có thể thấm qua màng bọc tiến liệt tuyến, đưa thuốc trực tiếp tới chỗ bị bệnh, do vậy loại này tuy là triệu chứng hư, vẫn dùng nó hoạt huyết hóa ứ, nhuyễn kiên tán kết, là chỗ tinh xảo của bài thuốc. 2.4. Các phương pháp điều trị khác: - Muối ăn rang nóng, bọc vải chườm bụng dưới. - Mỗi tối dùng túi nước nóng 3 giờ - Châm huyệt Quan nguyên, Trung cực, Âm lăng tuyền, Tam dương giao, Khí hải. 2.5. Phòng bệnh: - Khi khí hậu chuyển mùa lạnh chú ý giữ cơ thể ấm không bị nhiễm lạnh. - Sinh hoạt tình dục điều độ, nên kiêng rượu Hàng ngày kiên trì tắm nước nóng.
Tin mới hơn:
|





























