| Bệnh di tinh |
|
|
|
| Thứ tư, 17 Tháng 3 2010 11:22 | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
DI TINH 1. Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1. Đại cương Di tinh là tình trạng nam giới ở tuổi trưởng thành khi không giao hợp mà tự xuất tinh. Bệnh chia làm 2 loại là hoạt tinh và mộng tinh. - Hoạt tinh là tinh tự xuất ra khi bị kích thích - Mộng tinh là xuất tinh khi ngủ mê. Nếu một tháng di tinh 1 - 2 lần là hiện tượng sinh lý bình thường. Mộng tinh và hoạt tinh tuy có biểu hiện khác nhau nhưng nguyên nhân gây bệnh là giống nhau. Bệnh thường do rối loạn thần kinh chức năng, viêm tuyến tiền liệt, viêm túi tinh và một số bệnh mạn tính khác. 1.2. Nguyên nhân gây bệnh: - Do tâm thần kinh: là nguyên nhân chủ yếu được các tác giả nhắc tới: + Do rối loạn cân bằng giữa 2 quá trình hưng phấn và ức chế, quá nhạy cảm về hưng phấn và ức chế đều có thể gây nên bệnh, những chấn thương tâm lý cũng là gây nên bệnh. Thủ dâm nhiều cũng là một nguyên nhân gây di tinh. + Tổn thương tủy sống vùng L2, vùng đuôi ngựa, tổn thương dây thần kinh thẹn trong cũng có thể gây di tinh. - Do nội tiết: Lượng Testosteron trong huyết tương giảm, các bệnh khối u tuyến yên - Do các nguyên nhân khác như viêm tuyến tiền liệt, viêm túi tinh, một số bệnh mạn tính khác. 2. Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.1. Bệnh danh: Di tinh 2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: Theo Y học cổ truyền bệnh có liên quan tới chức năng của các tạng tâm, can, thận. Do tâm thận quá vượng thịnh, tình dục bị kích thích gây hoạt tinh, thận hư không tàng tinh; hoặc ăn quá nhiều thức ăn cay, béo, ngọt gây nên thấp nhiệt dồn xuống dưới kích thích thận hỏa gây mộng tinh. Nguyên nhân gây di tinh thường do thận hư mất khả năng cố nhiếp, quân hỏa, tướng hỏa vượng thịnh hoặc do thấp nhiệt dồn xuống dưới gây nhiễu động tinh thất mà gây nên bệnh. 2.2.1. Âm hư hỏa vượng: Do tâm âm hao tổn, tâm hỏa cang thịnh dẫn tới nhiễu động tướng hỏa, nhiễu động tinh thấy gây di tinh. Tâm có chức năng là quân chủ, tâm tàng thần, nếu tâm thần an định thì tinh tự nhiếp không bị di. Ngoài ra còn do hoạt động sinh dục quá độ làm ảnh hưởng tới thận âm gây nên tướng hỏa vượng thịnh mà dẫn tới di tinh. 2.2.2. Thận hư không tàng tinh: Do tiên thiên bất túc, làm cho thận không tàng tinh dẫn tới di tinh. Hoặc do tảo hôn, sinh hoạt tình dục quá độ gây ảnh hưởng tới thận, thận hư không tàng tinh gây nên di tinh. 2.2.3. Thấp nhiệt: Do uống rượu quá nhiều, ăn nhiều thức ăn béo ngọt làm ảnh hưởng tới tỳ vị, gây nên thấp nhiệt dồn xuống dưới gây nhiễu động tinh thất dẫn tới di tinh. Hoặc do âm hư hỏa vượng làm ảnh hưởng tới khí hóa của thận, dồn xuốn dưới gây di tinh. 2.2.4. Can uất hóa hỏa: Do tâm tư tình cảm không được thoải mái, can không được thư thái điều đạt, hoăc tức giận ảnh hưởng tới can, can khí uất kết, sơ tiết thất thường lâu ngày hóa hỏa gây nhiễu động tinh thất dẫn tới di tinh. 2.3. Biện chứng luận trị: 2.3.1. Thể Thận hư không tàng tinh: *Chứng trạng: Di tinh, đau lưng mỏi gối, ngủ kém, hay hoa măt, chóng mặt, nhức đầu, ù tai. - Nếu thận âm hư: phiền nhiệt, họng khô, miệng khô, ra mồ hôi trộm, tiểu tiện ngắn đỏ, đại tiện táo, đau nhức trong xương, mạch tế sác. - Nếu thận dương hư: sợ lanh, chân tay lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện phân nát, mạch trầm nhược. * Pháp điều trị:Bổ thận âm (nếu thận âm hư); Bổ thận dương (nếu thận dương hư); cố tinh an thần. *Bài thuốc: + Bài 1: Cố tinh hoàn:
Tất cả tán bột mịn làm viên, uống mỗi ngày 10 - 20g, chia hai lần sáng, chiều. Dùng cho cả thể thận âm hư và thận dương hư. + Bài 2: Kim tỏa cố tinh hoàn
*Ý nghĩa bài thuốc: Sa uyển tật lê bổ thận, cố nhiếp, ích tinh; Long cốt, Mẫu lệ tiềm lương cố sáp; Liên tu sáp tinh chỉ di; Khiếm thực ích khí ning tâm, bổ thận sáp tinh. Các vị thuốc phối hợp dùng có tác dụng bổ thận ích tinh, cố sáp. + Bài 3: Tang phiêu tiêu tán Tang phiêu tiêu, Viễn chí, Xương bồ, Phục thần, Đảng sâm, Đương quy, Quy bản. Thành phần các vị bằng nhau tán bột làm viên uống mỗi ngày 8g, chia 2 lần. Dùng cho cả thể thận âm hư và thận dương hư. + Bài 4: Nếu âm hư dùng bài Đại bổ âm hoàn gia giảm
Các vị tán bột, lấy tủy lợn chưng chín hòa mật làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 6 - 9g; ngày 2 lần. + Bài 5: Nếu dương hư dùng bài "Hữu quy hoàn" gia giảm
Tán bột làm viên, uống mỗi ngày 10 - 20g, chia 2 lần. Hoặc dùng thuốc sắc, mỗi ngày 1 thang. Châm cứu: Nếu thận âm hư châm bổ các huyệt Quan nguyên, Khí hải, Trung cực, Thận du, Tam âm giao, Nội quan Nếu thận dương hư: cứu hoặc ôn châm các huyệt trên trừ huyệt Nội quan. 2.3.2. Thể Tâm thận bất giao: *Chứng trạng: Di tinh, mất ngủ, ngủ hay mê, đầu vàng, tai ù, tâm thần không yên, ra mồ hôi trộm, tiểu nhiệt, lưỡi đỏ ít rêu, mạch sác. *Pháp điều trị: Tư âm giáng hỏa, giao thông tâm thận, an thần cố tinh *Bài thuốc:
*Ý nghĩa bài thuốc: Sinh địa, Mạch môn, Thiên môn, Đương quy: tư âm chế ước tâm hỏa; Đảng sâm, Thạch xương bồ, Viễn chí: an thần định chí, giao thông tâm thận; Tang phiêu tiêu, Long cốt: sáp tinh, an thần; Tri mẫu, Hoàng bá: tư âm giáng hỏa. Các thuốc phối hợp dùng có tác dụng tư âm giáng hỏa, giao thông tâm thận, an thần, sáp tinh sẽ hết di tinh. 2.3.3. Thể tướng hỏa cang thịnh: *Chứng trạng: Di tinh, người bực bội dễ cáu gắt, ngực sườn đầy tức, mặt đỏ, họng khô, miệng đắng, chất lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền sác. *Pháp điều trị: Thanh tả tướng hỏa, an thần cố tinh. *Bài thuốc: Long đởm tả can thang ("Y phương tập giải") gia giảm
*Ý nghĩa bài thuốc: Long đởm thảo, Chi tử, Hoàng càm thanh tả tướng hỏa; Trạch tả, Mộc thông, Xa tiền tử thanh lợi thấp nhiệt; Đương quy, Sinh địa dưỡng âm bổ huyết; Táo nhân, Ngũ vị tử, Long cốt, Mẫu lệ an thần cố tinh. Các vị thuốc phối hợp có tác dụng sơ can thanh tả tướng hỏa, an thần cố tinh thì bệnh sẽ hết. 2.3.4. Thể thấp nhiệt: *Chứng trạng: Di căn, miệng khô, khát nước, uống nước nhiều, tiểu tiện đỏ, tâm phiền ít ngủ, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ, mạch nhu sác. *Pháp điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp *Bài thuốc: Tỳ giải phân thanh ẩm ("Y học tâm ngộ") gia giảm
*Ý nghĩa bài thuốc: Tỳ giải, Hoàng bá, Phục linh, Xa tiền tử, thanh nhiệt hóa thấp; Đan sâm, Thạch xương bồ thanh tâm an thần; Bạch truật kiện tỳ hóa thấp; Xích thược hoạt huyết hóa ứ. 2.4. Các phương pháp điều trị khác: 2.4.1. Phương pháp châm cứu: *Hào châm: Châm các huyêt Tâm du, Yêu dương quan, Quan nguyên, Hội âm, Tam âm giao; kích thích vừa, mỗi ngày hoặc cách ngày một lần, 5 - 7 lần là một liệu trình, cũng có thể dùng điện châm tần số thấp. *Nhĩ châm: Châm các huyệt Thận, Bàng quang, Niệu đạo, dùng kích thích trung bình, lưu kim 5 phút, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 8 lần là 1 liệu trình. *Thủy châm: Châm các huyệt Quan nguyên, Trung cực, cách ngày 1 lần, 5 lần là 1 liệu trình. 2.4.2. Pháp điều trị bằng ăn uống: - Cúc hoa trà: Hang cúc hoa 10g, hãm nước sôi, thay trà. - Hoàng kỳ 30g, cá chép hoặc cá diếc 1 con (chừng 250g) hầm cách thủy ăn. - Hạt sen bỏ lõi, thêm một lượng gạo nếp thích hợp nấu cháo ăn hoặc nấu canh hạt sen ăn. - Gan dê xào hẹ, Hẹ 100g, rửa sạch cắt ngắn, gan dê 120g thái mỏng, lửa to xào chín rồi ăn. - Trứng chim sẻ nấu ăn, mồi ngày 3 lần, mỗi lần 1 quả. 2.4.3 Các phương pháp khác : - Kim anh tử 1000g, cho nước sắc cô thành cao lỏng, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần uống 10ml. - Phúc bồn tử, Câu kỷ tử, Thỏ ty tử, Ngũ vị tử, Liên tử lượng bằng nhau nấu cao đặc, làm thành vien mật, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 06g. - Bột Ngũ vụ tử 15g, trộn dấm đắp vào rốn, cách ngày 1 lần. - Kim tỏa cố tinh hoàn, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 06g. - Tri bá địa hoàng hoàn, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 06g. 2.5. Phòng bệnh : 2.5.1. Chế độ sinh hoạt : Giữ cho tinh thần thoải mái, làm việc, sinh hoạt điều độ, buối tối khi ăn không nên ăn no. 2.5.2. Phương pháp thể dục : Thường xuyên rèn luyện thể dục;Đồng thời có thể luyện tập khí công và Thái cực quyền. 2.5.3 Chế độ ăn uống : Kiêng ăn các thức ăn cay kích thích, như rượu, chè đặc,Cà phê, và các thức ăn táo nhiệt dầu mỡ. Có thể ăn hạt dẻ, Đậu đen, Hẹ, Biển đậu, Hạt sen, Đại táo.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|




























