| Tai biến mạch máu não |
|
|
|
| Thứ sáu, 26 Tháng 2 2010 18:17 | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO 1. Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1. Đại cương: Căn cứ vào mức độ thiếu máu, y học hiện đại chia ra các thể lâm sàng như sau: Thiếu máu cục bộ thoảng qua ở não (Focal cerebral ischemia): là tình trạng mất chức năng ở não hoặc mất, xảy ra đột ngột với các triệu chứng khỏi dưới 24h không để lại di chứng. Tuy bệnh có thể lặp đi lặp lại, nhưng bệnh không tồn tại lâu nên cũng khó chẩn đoán xác định.Thiếu máu cục bộ não (nhồi mãu não) xảy ra khi một mạch máu não bị tắc, vùng não không được nuôi dưỡng sẽ bị hủy hoại (nhũn não). Vị trí ổ nhồi máu thường trùng hợp với khu vực tưới máu của mạch.
- Hốc não (Lacunar infartion): là các ổ khuyết nhỏ của mô não hình thành sau khi bị nhồi máu não. Tần suất tai biến mạch máu não thể thiếu máu cục bộ não tăng theo tuổi, 75% số trường hợp là trên 65 tuổi. Những người có huyết áp cao và suy mạch vành có nguy cơ mắc bệnh gấp 3 lần. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam cao hơn nữ là 3/2. 1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: 1.2.1. Nguyên nhân: - Xơ cứng động mạch chiếm 60 - 80 trường hợp Các bệnh tim gây tắc chiếm 20% các trường hợp. Bệnh này hay gặp ở người trẻ dưới 45 tuổi, thường có loạn nhịp tim hoàn toàn (những bệnh có và không có tổn thương van tim).
- Huyết khối mạch (thrombsis) - Co thắt mạch máu não (viasoconstriction) Tắc mạch (embolisme), cục tắc từ một mạch máu ở xa não (tim, các mạch lớn ở cổ) bong ra và theo dòng máu lên não.
1.2.2. Cơ chế bệnh sinh: Cơ chế bệnh sinh còn chưa biết rõ, thường do tắc mạch não. Cục tắc thường là tơ huyết lẫn với tiểu cầu hoặc các mảnh vữa xơ động mạch. Nơi sinh ra cục tắc có thể từ nội mô mạch máu, buồng tim hoặc van tim. Các triệu chứng lâm sàng chỉ thoảng qua, có thể vì những cục tắc tan nhanh hoặc do não vẫn được cung cấp máu qua các mạch nôi. Nguyên nhân hiếm gặp hơn là do các rối loạn huyết động như co thắt mạch máu và những bệnh bất thường của hồng cầu như bệnh đa hồng cầu, tăng đông máu thứ phát sau các bệnh hệ thống, ung thư biểu mô, sản giật...Trong các nguyên nhân trên, xơ cứng động mạch và bệnh tim mạch là phổ biến.
1.3. Triệu chứng: 1.3.1. Lâm sàng: - Bệnh nhân thấy mờ tạm thời một mắt, có thể mờ hẳn hoặc cảm giác nhìn qua một màng che. Dấu hiệu này hồi phục nhanh có khi trong vài giây. - Rối loạn cảm giác nửa người, các dấu hiệu tê bì, kiến bò, cảm giác nặng nề và mất nhận biết điển hình là ở tay và ở mặt. - Liệt nửa người, rối loạn cảm giác nửa người, các biểu hiện này có thể luân chuyển nửa người bên phải hoặc bên trái. - Các biểu hiện rối loạn tiểu não - tiền đình, nhìn đôi, rối loạn ngôn ngữ (nói khó), bán manh. 1.3.2. Cận lâm sàng: - Chụp mạch máu não trực tiếp qua động mạch cảnh hoặc phương pháp Seldlinger. - Chụp cắt lớp Doppler các mạch máu vùng cổ, chụp Doppler qua sọ. - Chụp cắt lớp vi tính não. - Điện tim. - Điện não, lưu huyết não. - Xét nghiệm công thức máu, đường huyết, các yếu tố đông máu, định lượng Cholesterol, Triglycerid. 1.4. Chẩn đoán: 1.4.1.Chẩn đoán xác định: Dựa vào các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng trên. 1.4.2. Chẩn đoán phân biệt: - Động kinh ổ - Cơn đau nửa đầu (Migraine), thường có dấu hiệu đi kèm như nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng động. - Cơn hạ đường huyết: Bệnh nhân có tiền sử bệnh đái tháo đường điều trị bằng thuốc hạ đường huyết. Trong cơn hạ đường huyết, bệnh nhân có thể có liệt nửa người thoảng qua, thường xảy ra các giờ buổi sáng, ý thức lú lẫn, vã mồ hôi, xét nghiệm đường máu tăng. 2. Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.1. Bệnh danh: Thuộc phạm trù "Trúng phong kinh lạc" 2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: Trước thời Hán, Đường, người ta cho rằng nguyên nhân bệnh sinh chủ yếu là do bên ngoài (ngoại phong). Sau đó, một tác giả cho là do những nguyên nhân bên trong (nội phong). Lưu Hà Gian cho là do "Tâm hỏa bạo thậm" Lý Đông Viên cho là do "Chân khí hao tổn; chính khí tự hư" Chu Đan Khê cho là "Đàm thấp sinh nhiệt" Cách xem xét giải thích trên đều có quan hệ chặt chẽ với chứng trúng phong. Ngày nay, chứng trúng phong dạng thiếu máu được giải thích là bệnh có quan hệ chặt chẽ với khí hư, âm hư, huyết ứ, phong đàm. Theo một số tác giả, bệnh sinh là do khí trệ, khí hư dẫn tới huyết ứ. Huyết ngăn trở lạc mạch của não gây trúng phong. Một quan điểm khác cho là hoạt động của các tạng tâm, can, thận bị giảm sút gây ra các hiện tượng âm hư, sinh đờm, phong động gây trúng phong. 2.3. Biện chứng luận trị: 2.3.1. Thể khí hư huyết ứ: *) Chứng trạng: Chân tay tê dại, cơ da không đỏ, đột nhiên miệng mắt méo xệch, nói năng không linh hoạt, góc miệng chảy dãi, nặng thì bán thân bất toại, lưỡi đỏ, thân lưỡi mập nhạt, mạch huyền tế. *) Pháp điều trị: Hoạt huyết bổ khí *) Bài thuốc: Khung long thang gia giảm
*) Ý nghĩa bài thuốc: Tiểu trúng phong tức là rối loạn vận động, cảm giác, thị lực, ngôn ngữ tạm thời (trong 1 - 2 ngày có thể khôi phục) do phần não thiếu máu tạo thành. Vì vậy đông dược hoạt huyết hóa ứ, như Xuyên khung, Địa long, Cát căn, Ngưu tất, Kê huyết đằng... để làm giãn nở mạch máu, giảm thấp độ dính của huyết dịch, hòa tan cục nghẽn để tăng thêm lưu lượng máu cho não, cải thiện trạng thái thiếu máu. Khí lưu thông thì huyết lưu thông; Đẳng sâm, Hoàng kỳ...bổ khí, tăng cường công hiệu của thuộc hoạt huyết. 2.3.2. Thể âm hư phong đàm: *) Chứng trạng: Bình thường bệnh nhân hay thấy đầu váng chướng đau, tai ù mắt hoa, ít ngủ, mộng mị nhiều, đột nhiên phát sinh lưỡi cứng nói lắp, miệng méo mắt xếch, bán thân bất toại, lưỡi đỏ rêu nhớt, mạch huyền hoạt hoặc huyền tế sác. *) Pháp điều trị: Dưỡng âm tiềm dương, tức phong hóa đờm. *) Bài thuốc: Trấn can tức phong thang ("Y học viên Trung sâm Tây lục") gia giảm
*) Ý nghĩa bài thuốc: Sự hình thành cục nghẽn thường liên quan với vữa xơ động mạch, cao huyết áp, mỡ trong máu cao...Theo quan niệm Đông y, những tổn thương trên là do âm hư dương vượng, phong đờm nhiều lên. Trong bài thuốc này, Mẫu lệ, Quy bản...dưỡng âm tiềm dương; Bạch thược, Huyền sâm, Ngưu tất...dưỡng âm; Câu đằng, Địa long...tắt phong thông lạc; Nam tinh, Thương truật...hóa đờm thấp; Hoàng bá thanh hư hỏa; Sơn tra thấp mỡ. 2.3.3.Phương pháp điều trị khác: 2.3.3.1. Tiếp nhỏ giọt vào tĩnh mạch: *) Bài thuốc: - Dịch tiêm Đan sâm 4g/2ml x 4 ống - Dịch tiêm Hoàng kỳ 4g/2ml x 4 ống - Nước đường Glucoza 10% 500ml. *) Phương pháp dùng: Nhỏ giọt vào tĩnh mạch, mỗi ngày 1 lần, 5 - 7 ngày là một liệu trình. Nếu tiến triển tốt có thể tiến hành liệu trình thứ 2 tiếp theo trên. *) Ý nghĩa bài thuốc: Đan sâm thuộc loại thuốc hoạt huyết hóa ứ, Hoàng kỳ thuộc loại thuốc bổ khí, 2 thuốc này dùng để bổ khí hoạt huyết, hiệu quả chữa trị đối với trúng phong dạng thiếu máu tương đối tốt. 2.3.3.2. Phương pháp châm cứu: *) Châm thân thể: + Chọn huyệt: - Huyệt chọn đầu tiên: Nhân trung, Bách hội. - Nhóm huyệt chung: Phong bì, Liêm tuyền, Hạ quan, Thiên đỉnh, Khúc trì, Hoàn khiêu, Túc tam lý. Tùy nguyên nhân mà gia giảm, nếu khí hư thì thêm: Quan nguyên, Khí hải; Trường hợp người béo đờm thấp : Phong long; Trường hợp âm hư dương vượng: Thái khê, Thái xung. + Phương pháp: Chủ yếu là lấy huyệt chọn đầu tiên, căn cứ trạng thái triệu chứng khác nhau chọn 3 - 4 huyệt dự bị để châm, hoặc điện châm 15 - 20 phút, mỗi ngày 1 lần, 10 ngày là 1 liệu trình. *) Châm đầu: + Chọn huyệt: Vùng vận động, vùng cảm giác, đều lấy phía đối diện. + Phương pháp: Mỗi ngày 1 lần, lưu kim 15 - 20 phút, khi lưu kinh cần vê kim 2 - 3 lần, hoặc điện châm, 10 ngày là 1 liệu trình.Tin cũ hơn:
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Lần cập nhật cuối lúc Thứ sáu, 26 Tháng 2 2010 18:36 |




























