| Bướu cổ địa phương và bướu cổ tản phát |
|
|
|
| Thứ tư, 17 Tháng 3 2010 11:44 | |||||||||||||||||||||||||||
|
BƯỚU CỔ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BƯỚU CỔ TẢN PHÁT
1. Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1. Đại cương : Bệnh bướu cổ địa phương là một bệnh mà triệu chứng chủ yếu là bướu giáp ngày càng to. Bệnh gặp ở một số dân cư trong một vùng đại lý thiếu I ốt trong môi trường sống. Bướu cổ tản phát là bệnh tuyến giáp to ở những người sống ngoài vùng đại lý có bướu cổ địa phương. Bệnh phát sinh do một số yếu tố bệnh lý trong cơ thể, chủ yếu là rối loạn hệ thống enzim của cơ thể. 1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh : Nguyên nhân chủ yếu của bệnh bướu cổ đại phương là không đủ I ốt trong thức ăn do không đủ I ốt trong đát và nước, điều kiện sinh hoạt xã hội, khẩu phần thức ăn không hợp lý, ảnh hưởng của các bệnh nhiễm trùng, nhiễm độc... 1.3. Triệu chứng lâm sàng : Hình ảnh lầm sàng tùy thuộc vào tình trạng chức năng tuyến, khối lượng bướu và nơi khu trú của bướu. Những bệnh nhân có bướu giáp nhỏ hầu như không có triệu chứng lầm sàng gì, khi bướu to ra sẽ chèn ép vào các cơ quan lân cận sẽ có các triệu chứng khó thở, ho khan, biếu đổi giọng nói... Nếu có suy chức năng tuyến, trên lâm sàng có triệu chứng suy chức năng tuyến giáp. 1.4. Chẩn đoán : - Địa phương nhiều người bướu cổ. - Chức năng tuyến giáp bình thường hoặc giảm (cả triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm). 1.5. Chẩn đoán phân biệt : - Viêm tuyến giáp tự miễn. - Bệnh Basedow. - Ung thư tuyến giáp. 2. Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.1. Bệnh danh : Bệnh thuộc phạm trù "Bệnh ảnh" của Y học cổ truyền. 2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh : Chủ yếu là do khí u tán kết, thủy thổ mất thích nghi, ăn uống không điều độ, ảnh hưởng đến chức năng vận hóa của tỳ vị, khiến cho cơ khí không thông, tụ lại thành đờm, khí trệ đờm ngưng, ngăn kết trước cổ hình thành bệnh ảnh (Bướu cổ). Bệnh lâu ngày - từ khí tới huyết - huyết lưu thông ứ trệ dẫn tới đờm khí ứ kết với nhau, Bướu to chèn ép khí quản gây ra khó thở, ho khan.... 2.3. Biện chứng luận trị : * Chứng trạng : Khí uất đờm kết, một bên hoặc 2 bên phần cổ sưng to lan tỏa, hơi trướng. sắc da bình thường, mép biên không rõ, ấn nó nhu mềm không đau, tùy theo tình hình vui hay cáu giận mà tiêu hay mọc lên, Giữa cổ sưng to lan tỏa, trường hợp nặng như túi như bọc, thõng xuống tới ngực bí, ngột ngạt thiếu khí, Lưỡi đỏ rêu trắng. mạch huyền. * Pháp điều trị : Thư can lý khí. Hóa đờm tiêu ảnh. * Bài thuốc : Tứ hải như uất hoàn ("Dương y đại hoàn") gia giảm.
* ý nghĩa bài thuốc : Trong bài thuốc lấy Thanh mộc hương, Trần bì sơ can lý khí giải uất; Côn bồ, Hải tảo, Hải đới, Hải phiêu diêu, Hải cáp phấn nhuyễn kiêm tán kết, hóa đờm tiêu ẩm; Thêm vào cát cánh lợi yết giải độc; Hoàng dược tử cùng dùng với Bạch giới tử để tăng cường tác dụng hóa đờm tiêu ảnh, Nhưng, Hoàng dược tử tuy thuộc thuôc quan trọng tiêu ảnh, lượng dùng quá lớn, dễ dẫn tới buồn nôn nôn mửa, ăn suy giảm, do vậy cho vào Long đởm thảo để giảm chế nó. Nếu đờm và ứ kết với nhau, sờ nó cục, lại cần phối hợp thêm Đương quy, Nhũ hương. Một dược, Đam sâm hoạt huyết hóa ứ tiêu tán kết. 2.4. Bài thuốc khác : - Tứ hải Thư uất hoàn mỗi lần 1 viên, mỗi ngày uống 2 lần, dùng nước muối nhạt uống thuốc. - Ảnh lưu hoàn, 4.5g/ ngày, mỗi ngày sau cơm tối ngậm 1 viên, 1 tháng là 1 liệu trình, nếu như chữa khỏi, có thể uống tiếp, Bệnh tim, lao phổi, phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú cấm dùng. 2.5. Phòng bệnh : 2.5.1. Phòng ngừa nhằm đúng vào nhân tố thủy thổ : - Bình thường nên ăn các thức ăn có hàm chứa i-ốt cao như các thức vật hải sản, tử thái, giai đoạn mang thai, cho con bú càng quang trọng. - Cư dân vùng núi cao biên cương xa, cao nguyên nên sử dụng muối i-ốt để dự phòng bệnh. 2.5.2. Giữ gìn sức khỏe đối với các trường hợp đã bị bệnh, Người bệnh bệnh ảnh nên giữ tâm lý được thoải mái thông suốt, ăn các thức ăn giầu chất dinh dưỡng và rau xanh tươi, kiêm trì chữa trị, chú ý quan sát biến đổi quanh cổ của thũng ảnh, định kỳ phúc tra, phòng biến chứng.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|





























