| Bệnh giảm tế bào bạch cầu |
|
|
|
| Thứ tư, 17 Tháng 3 2010 11:55 | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
BỆNH GIẢM TẾ BÀO BẠCH CẦU
1. Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1. Đại cương: Bệnh có đặc điểm là giảm tế bào Bạch cầu ở máu ngoại vi dưới 4x109/lit kéo dài, tỷ lệ % của các tế bào bạch cầu hạt bình thường hoặc thấp ở mức độ nhẹ. 1.2. Triệu chứng: 1.2.1. Lâm sàng: các triệu chứng lâm sàng không điển hình như váng đầu, mệt mỏi, ăn kém, lưng mỏi, tim hồi hộp, mất ngủ... 1.2.2. Cận lâm sàng: · Tế bào bạch cầu máu ngoại vi thấp kéo dài ở dưới 4 x 109/lit. · Tủy xương: Có thể thấy hình ảnh suy nhược. 1.3. Chẩn đoán phân biệt: Cần chẩn đoán phân biệt với bệnh giảm tế bào Bạch cầu hạt: Bệnh này có triệu chứng nhiễm trùng lặp đi lặp lại, đại đa số phát bệnh nhanh, sốt, niêm mạc miệng họng loét đau, mệt mỏi nhiều, dễ có thể dẫn tới bệnh Bạch cầu cấp thể giảm bạch cầu 1.4. Điều trị: · Kháng sinh · Dùng Cocticoit · Truyền máu · Vitamin · Trợ tim 2. Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.1. Bệnh danh: Bệnh thuộc phạm trù chứng "Hư" của Y học cổ truyền 2.2. Nguyên nhân: - Do bẩm thụ tiên thiên kém - Do lao động quá mệt nhọc - Dùng quá nhiều thuốc công phạt - Sau mắc bệnh nặng mà nuôi dưỡng kém Bênh có liên quan đến tạng Phế, Tỳ, Can, Thận, nhưng chủ yếu là tổn thương đến Tỳ khí, Thận khí. 2.3. Biện chứng luận trị: 2.3.1. Thể Tỳ Thận khí hư: *Chứng trạng: Đầu váng, mệt mỏi, đại tiên phân nát, lưng đau, mỏi, sợ lạnh, thích ấm, rêu lưỡi trắng mỏng, chất lưỡi nhạt, mạch quan phù, xích thược. *Pháp điều trị: Kiện Tỳ ôn Thận, bồi bổ vệ khí. *Bài thuốc: Bổ Thổ ôn Thận thang
*Ý nghĩa bài thuốc: Bài thuốc có tên Bổ Thổ ôn Thận thang, nhưng các vị trong bài không phải là định để kiện Tỳ ôn Thận, thực chất là lấy bồi bổ vệ khí làm gốc. "Bạch cầu" là thuật ngữ sinh lý của Tây y, không thấy trong sách cổ của Y học cổ truyền, nhưng tác dụng đề kháng chế ngự bệnh tà (tiêu diệt vi khuẩn) của Bạch cầu giống như "Vệ khí " của Y học cổ truyền. Do vậy mấu chốt điều trị bệnh giảm tế bào bạch cầu là bổ vệ khí. Ôn Thổ ôn Thận là một tiên thiên, một bổ hậu thiên - nuôi nguồn gốc của vệ khí. Đan sâm: Kiêm cả công cả bổ có thể hành huyết sinh tân. Tân Dịch viết "Động thì biến, biến ắt sinh hóa", cho nên vị Đan sâm không thể xem nhẹ. Phụ tử: Ôn Thận bồi Thổ - là linh hồn của bài thuốc. Sách Nội kinh viết "Vệ xuất hạ tiêu", nhưng liều dùng nên nhỏ vì lấy "Hỏa ít sinh khí". 2.3.2. Thể Phế Thận đều hư: *Chứng trạng: Đầu váng, hoa mắt, hụt hơi ngại nói, tự hãn, dễ bị cảm mạo, rêu lưỡi mỏng, chất lưỡi nhạt, mạch hư đại. *Pháp điều trị: Ích Phế bổ Thận dưỡng vị *Bài thuốc: Kim thủy tiễng
*ý nghĩa bài thuốc: Trong bài, các vị thuốc tác dụng dưỡng Phế, tính bình, liều lượng tương đối nhỏ, không bổ mạnh so với vị thuốc tác dụng bổ Thận. Phế là tạng cực kỳ nhạy cảm, các nhà hiền triết xưa viết: "Người giỏi điều dưỡng, không cần các thang thuốc lượng lớn, dùng liều lượng cao không thích hợp thế mới giúp Phế sinh khí tốt được". Đẳng sâm: Nhuận Phế, dưỡng huyết nhưng không quá tư nhuận, cổ vũ thanh dương, phấn chấn trung khí, không lo quá táo. Những nghiên cứu gần đây cho thấy Đảng sâm có tác dụng tăng cường chức năng thực bào của hệ thống Bạch cầu, nâng cao khả năng đề kháng của cơ thể. Xuyên khung: Có thể dẫn khí thanh dương đi lên, có thể điều huyết mới sinh đi xuống - Một vị thuốc vừa có tác dụng đưa thuốc đi lên vừa có tác dụng đưa thuốc đi xuống. Bài thuốc ích Phế bổ Thận cho Sâm vào làm môi giới khiến cho Kim - Thủy gặp nhau, làm cho vệ khí tự mạnh lên. 2.3.3. Thể Can Thận âm hư: *Chứng trạng: Đầu váng, đau đầu, ù tai, lưng gối mỏi mềm, mạng sườn đau lăm răm, miệng khô họng khát, rêu lưỡi ít, chất lưỡi đỏ, mạch huyền tế đới sác. *Pháp điều trị: Tư âm điền tinh, tích tinh hóa khí. *Bài thuốc: Sơn dược nhất quán tiễn
*Ý nghĩa bài thuốc: Chứng Can Thận âm nên bổ dưỡng Tỳ Vị vì nó là hậu thiên của con người, tân dịch bắt nguồn từ Tỳ Vị, tàng trữ tại Thận. Sơn dược nhuận Thổ làm gốc, sắc trắng nhập Phế, dịch đặc ích Thận, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc. Chỉ một vị thuốc mà dưỡng âm của ngũ tạng. Nữ trinh tử: Đắng vào Tâm, ngọt vào Tỳ, tính bình hòa, bổ âm, cũng dùng để chữa kinh nguyệt không đều. Thời xưa các Đạo sỹ tránh ăn ngũ cốc thì dùng nó. Những nghiên cứu gần đây cho thấy, Nữ trinh tử có tác dụng tốt trong bệnh giảm Bạch cầu do tác dụng của phóng xạ, hóa trị liệu dẫn tới. Xuyên luyện: Tính đắng, lạnh, công dụng thanh sơ, tính của nó điều thông, nên dưỡng âm không nê trệ. 2.3.4. Các phương pháp khác: - Sinh Thái sâm: 03g x 02 lần/ngày - Nhị chí hoàn: 03g x 03 lần/ngày - Ngọc binh phong thang: 01 thang/ngày. 2.4. Phòng bệnh: - Lao động và thoải mái tinh thần - Đảm bảo dinh dưỡng và tránh bị cảm mạo - Định kỳ Cận lâm sàng máu và tủy xương.
Tin cũ hơn:
|




























