| Bệnh đường máu thấp |
|
|
|
| Thứ tư, 17 Tháng 3 2010 11:42 | |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
BỆNH ĐƯỜNG MÁU THẤP
1. Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1. Đại cương: Bệnh đường máu thấp là chỉ nồng độ trong máu quá thấp do nhiều nguyên nhân gây nên. Trong đó chứng 70% là đường máu thấp dạng chức năng, sau đó là u tế bào sản xuất Isulin, các loại bệnh nội tiết và bệnh gan. Biểu hiện chủ yếu là thần kinh trung khu và hệ thống thần kinh giao cảm bị kích thích. 1.2. Triệu chứng: 1.2.1. Lâm sàng: Đặc điểm là nói chung phát bệnh khi đói, trạng thái bệnh từ nhẹ đến nặng, số lần phát cơn từ ngẫu nhiên đến thường xuyên. Biểu hiện là đầu váng, mắt hoa, mất sức, tim hoảng loạn, đổ mồ hôi, sắc mặt trắng xanh, lo lắng, run rẩy, thậm chí co giật, đột nhiên đổ ngã... lúc đầu là lớp vỏ đại não bị ức chế, khám thấy khả năng nhận biết dần dần mất đi. Nặng hơn, các loại phản xạ tiêu mất, đồng tử thu nhỏ, hô hấp nông yếu, huyết áp hạ thấp. 1.2.2. Cận lâm sàng: Xét nghiệm quan trọng nhất là kiểm tra đường máu (bình thường: 4,22 - 6,11 mmol/l) Do nguyên nhân bệnh của bệnh này phức tạp, do vậy cần thiết phải kiểm tra chức năng gan, chức năng nội tiết có liên quan và chức năng thần kinh, để điều trị căn nguyên. 1.3. Chẩn đoán phân biệt: 1.3.1. Tai biến mạch máu não: Phát bệnh cấp tính, giai đoạn đầu xuất hiện hôn mê và liệt chân tay cơ thể, có tiền sử cao huyết áp và dịch não tủy chứa máu... 1.3.2. Động kinh: Thường xuất hiện đột ngột, điện não đồ có rối loạn nhịp, sóng nhọn, dùng thuốc động kinh có hiệu quả. 1.3.3. Bệnh tâm thần: Người bệnh có đặc điểm tính cách nhất định, phát bệnh không có liên quan đến đói bụng, mà liên quan chặt chẽ với nhân tố tinh thần. Ngoài ra, cần phân biệt với các bệnh như viêm não, bệnh tâm thần phân liệt, huyết áp thấp do vị trí tư thế, hạ canxi máu... 2. Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.1. Bệnh danh: Bệnh thuộc phạm trù "hư lao", "quyết chứng" của Y học cổ truyền 2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: 2.2.1. Khí huyết không đầy đủ: Tiên thiên bẩm phú bạc nhược, hậu thiên lao động thương tổn quá độ, ăn uống không điều độ, tư lự quá mức, sau khi bệnh phát không điều dưỡng chu đáo, đều có thể dẫn tới khí huyết không đầy đủ, tâm tỳ đều suy. Tỳ vị là nguồn sinh hóa của khí huyết, tỳ khí hư thì nguồn sinh hóa không đầy đủ, trên không đẩy đủ ở mặt thì sắc mặt trắng xanh, đầu váng mắt hoa, dưới không đến tứ chi thì tứ chi mệt mỏi, mất sức, khí hư không vững chắc thì mồ hôi đầm đìa. Tim chịu trách nhiệm về huyết, tàng thần, tâm thần mất nuôi dưỡng, thần không thu liễm vào trong thì tim hồi hộp phiền loạn. 2.2.2. Khí hư đờm tụ: Ăn uống không điều độ, bệnh lâu ngày sau phẫu thuật, tình cảm uất, nhiều suy tư, dẫn tới tỳ mất vận hóa kiện toàn, tích thấp sinh đờm, đờm theo khí thăng, lên che thanh khiêu, do vậy, tinh thần lơ mơ ý loạn; Đờm ngăn đường khí thì trong hầu đờm réo; Đờm trọc ngăn ở trong, vị khí ngược lên thì nôn mửa đờm rãi, đói không thể ăn; Đờm ngăn kinh lạc, thì tứ chi tê dại run rẩy.
2.3. Biện chứng luận trị: 2.3.1. Thể khí huyết không đầy đủ: *Chứng trạng: Sắc mặt trắng xanh, tim hồi hộp, bứt rứt, đầu váng mắt hoa, mất sức hụt hơi, mồ hôi đầm đìa, nhu cầu ăn không hứng khởi, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch tế sác. *Pháp điều trị: Bổ ích khí, dưỡng tâm ninh thần *Bài thuốc: Bát trân thang gia giảm
*Ý nghĩa bài thuốc: Bát trân thang nguồn từ "Chính thể loại yếu", có thể điều bổ khí huyết. Trong bài thuốc, Sâm, Truật, Linh, Thảo giỏi bổ khí giúp vận hóa, làm thực nguồn khí huyết hòa dinh, để an tâm thần, đồng thời Xuyên khung, Đương quy có thể tăng thêm tốc độ lưu chuyển máu, cải thiện tuần hoàn huyết dịch. điều tiết trạng thái dinh dưỡng của tổ chức, cũng có lợi cho uôn nắn rối loạn chức năng lớp vỏ đại não do ảnh hưởng của đường máu thấp. Đáng được chỉ ra Đẳng sâm. Địa hoàng hàm chứa đường Glucoza, qua nhiều nghiên cứu sơ bộ, dùng Bắc Đẳng sâm có thể tăng cao đường máu. Long nhãn nhục, ngọt ấm mà nhập tâm tỳ,là thuốc tốt cho ôn bổ, có sở trường đặc biệt tư mà không nhớt, bổ mà không ngàn. Trong nó cũng hàm chứa lượng lớn đường Glucoza. Protein ; Sơn thù du chứa Glicerin Mã biên thảo, Glicerin đen, có thể ứ chế thần kinh giao cảm, giảm nhịp tim, hạ huyết áp, gián tiếp gây hiệu quả trấn tĩnh, để liễn tâm khí lao tán. Các thuốc gộp dùng. Tập trung 3 phương pháp bổ, hành, liễm vào 1 bài thuốc, khiến cho khí vượng huyết sung túc, tỳ kiện toàn tim yên, các triệu chứng tự giải trừ. Trên lâm sàng nếu kèm thấy tứ chi phát lạnh, tiểu tiện trong nhiều, có thể lấy Lộc nhung phấn 0.3 - 0.9g nuốt uống, ngày uống 2 lần. Theo báo cáo nghiên cứu, Lộc nhung chứa chất kích thích và đường, có thể đối kháng với tác dụng giảm đường của Insulin. 2.3.2.Thể khí hư đờm tụ : * Chứng trạng : ý thức lung tung, người mềm không có sức, đói không thể ăn, đột nhiên đổ ngã, trong hầu đờm réo, nôn mửa bọt dãi, tứ chi run rẩy, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch trầm hoãn. * Pháp điều trị : Trừ đờm khai khiếu, bổ khí phù chính. *Bài thuốc : Địch đờm thang ("Tế sinh phương").
* Y nghĩa bài thuốc : Trọng dụng Xương bồ, mượn khí cay mạch của nó để khai khiêu bế, tính ôn táo để hóa đờm trọc; Khí hư đờm tụ là nguyên nhân của bệnh này, đờm sản sinh, do bởi kết của dịch, dịch kêt, do bởi tỳ không vận hóa thấp; Đồng thời Trần bì, Chỉ thực còn có công dụng hành khí. Khí nhuận đờm dễ tiêu, hợp với thuyết "Trị đờm tiên trị khí". Tăng thêm nam tinh, Trúc nhự để tăng cường hiệu quả làm sạch đờm; Thêm vào Đẳng sâm, Thục địa bổ khí huyết của nó, mà xây dựng công dụng phù chính khu tà. 2.3.2. Pháp điều trị khác : - Trường hợp phát bệnh chậm : Lấy 500g đậu đen, 1000g tủy sống lợn (đập vụn) thêm vào 1000ml nước cùng nấu, đun đến khi nước gần cạn, lấy đậu đen ra, đặt vào chỗ tối mát, hong khô đợi dùng. Mỗi lần 20 hạt, ngày 3 lần. - Trường hợp phát bệnh gấp, dùng Ngưu hoàng thanh tâm hoàn, Tử tuyết đan là các thuốc thanh tâm khai khiếu, uống với nước ấm, đợi họ tỉnh dần, lại biện chứng dùng thuốc. 2.4. Phòng bệnh : - Tránh kích thích tinh thần, ăn uống có điều độ có thời gian, sinh hoạt có quy luật, không làm lao động mệt mỏi, kiên trì rèn luyện thể dục vừa khả năng, để tăng cường thể chất. - Tích cực điều trị nguyên nhân - đề phòng tái phát.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|




























