Bệnh có đặc điểm là giảm tế bào Bạch cầu ở máu ngoại vi dưới 4x109/lit kéo dài, tỷ lệ % của các tế bào bạch cầu hạt bình thường hoặc thấp ở mức độ nhẹ.
1.2.Triệu chứng:
1.2.1.Lâm sàng: các triệu chứng lâm sàng không điển hình như váng đầu, mệt mỏi, ăn kém, lưng mỏi, tim hồi hộp, mất ngủ...
1.2.2.Cận lâm sàng:
·Tế bào bạch cầu máu ngoại vi thấp kéo dài ở dưới 4 x 109/lit.
·Tủy xương: Có thể thấy hình ảnh suy nhược.
1.3.Chẩn đoán phân biệt:
Cần chẩn đoán phân biệt với bệnh giảm tế bào Bạch cầu hạt: Bệnh này có triệu chứng nhiễm trùng lặp đi lặp lại, đại đa số phát bệnh nhanh, sốt, niêm mạc miệng họng loét đau, mệt mỏi nhiều, dễ có thể dẫn tới bệnh Bạch cầu cấp thể giảm bạch cầu
Bệnh thiếu máu huyết tán là một trạng thái trong đó tuổi thọ trung bình của hồng cầu giảm. nghĩa là dưới 100 ngày.
- Sự tiểu hủy hồng cầu mang tính chất sinh lý hàng ngày khoảng 1%. Trong tan máu có sự hủy diệt hồng cầu tăng lên gấp bội.
- Rút ngắn thời gian sống của hồng cầu là yếu tố cơ bản của bệnh lý thiếu máu tan máu.
- Thiếu máu tan máu có thể là bệnh tự nhân hay di truyền - gọi là thiếu máu tan máu trực tiếp và cũng có thể là thiếu máu mắc phải - thiếu máu tan máu thứ phát.
- Thiếu máu tan máu di truyền tạo nên do sự cấu trúc bất thường về gen ở hồng cầu.
- Thiếu máu tan máu mắc phải trong phần lớn các trường hợp đều tìm thấy nguyên nhân. Sự tan máu này xảy ra nhanh, cơ chế ngoài hồng cầu ra chúng ta chưa rõ.
Bệnh mẫn tính, pháttriển chậm, có đặc điểm là đỏ da, tăng tương đối số hồng cầu và lượng Hemoglobin, tăng khối lượng máu và độ nhớt của máu, lách to và xu hướng nghẽn mạch.
1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh :
Không rõ nguyên nhân nhưng một số tác giả cho rằng có thể :
- Trạng thái tiếu oxy mãn tính của tủy xương.
- Ung thư.
- Qúa thừa yếu tố nội tại.
- Bệnh của hệ thống tạo máu ở tủy, tăng tổng lượng máu.
Dòng máu ngoại vi bị chậm lại do tăng độ nhớt của máu, kết quả các mô kém cố định oxy và xu hướng nghẽn mạch.
Xuất huyết giảm tiểu cầu nguyên phát là bệnh mãn tính chảy máu nguyên nhân do giảm tiểu cầu trong máu ngoai vi, nguyên nhân chwua rõ nhưng có thể chữa được bằng thủ thuật cắt lách.
1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh :
Hiện nay người ta cho rằng đây là một thể tăng năng lách nguyên phát trong đó lách lấy ra từ tuần hoàn một số nhiều tiểu cầu hơn. Các tiểu cầu này dễ vỡ hơn bình thường vì có những kháng thể tự có kháng tiểu cầu. Các thể mãn tính nhiều khi do tự tạo miễn dịch.
Sự kéo dài thời gian chảy máu một mặt là do sự giảm co mao mạch, mặt khác do không đủ tiểu cầu, ảnh hưởng đến quá trình liên kết của tiểu cầu thành cục máu trắng (cục đông) để tắc mạch máu bị tổn thương. Và tác dụng của cục đông còn tiết ra các yếu tố tiểu cầu tham gia vào quá trình đônng máu ở giai đoạn sau.
Là một dạng chảy máu dưới da thành từng nốt ở tứ chi, chủ yếu ở cẳng tay, bàn tay, cẳng chân, mu chân, hay gặp ở trẻ em, người trẻ tuổi, Bệnh thường phối hợp với hiện tượng dị ứng.
1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh :
Do vi trùng, thức ăn, thời tiết thay đổi, các hóa chất và một số trường hợp nguyên nhân không rõ.
Người ta cho rằng do phản ứng kháng nguyên kháng thể xẩy ra ở lớp nội mạc thành mạch, ảnh hưởng đến quá trình thẩm thấu của các mau mạch, chủ yếu là các mao mạch nhỏ.
Bệnh bướu cổ địa phương là một bệnh mà triệu chứng chủ yếu là bướu giáp ngày càng to. Bệnh gặp ở một số dân cư trong một vùng đại lý thiếu I ốt trong môi trường sống.
Bướu cổ tản phát là bệnh tuyến giáp to ở những người sống ngoài vùng đại lý có bướu cổ địa phương. Bệnh phát sinh do một số yếu tố bệnh lý trong cơ thể, chủ yếu là rối loạn hệ thống enzim của cơ thể.
1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh :
Nguyên nhân chủ yếu của bệnh bướu cổ đại phương là không đủ I ốt trong thức ăn do không đủ I ốt trong đát và nước, điều kiện sinh hoạt xã hội, khẩu phần thức ăn không hợp lý, ảnh hưởng của các bệnh nhiễm trùng, nhiễm độc...
Bệnh đường máu thấp là chỉ nồng độ trong máu quá thấp do nhiều nguyên nhân gây nên. Trong đó chứng 70% là đường máu thấp dạng chức năng, sau đó là u tế bào sản xuất Isulin, các loại bệnh nội tiết và bệnh gan. Biểu hiện chủ yếu là thần kinh trung khu và hệ thống thần kinh giao cảm bị kích thích.
1.2.Triệu chứng:
1.2.1.Lâm sàng: Đặc điểm là nói chung phát bệnh khi đói, trạng thái bệnh từ nhẹ đến nặng, số lần phát cơn từ ngẫu nhiên đến thường xuyên. Biểu hiện là đầu váng, mắt hoa, mất sức, tim hoảng loạn, đổ mồ hôi, sắc mặt trắng xanh, lo lắng, run rẩy, thậm chí co giật, đột nhiên đổ ngã... lúc đầu là lớp vỏ đại não bị ức chế, khám thấy khả năng nhận biết dần dần mất đi. Nặng hơn, các loại phản xạ tiêu mất, đồng tử thu nhỏ, hô hấp nông yếu, huyết áp hạ thấp.
Bệnh đái tháo đường là một bệnh nội tiết chuyển hóa, nguyên nhân chính của bệnh là thiếu hoàn toàn hoặc không hoàn toàn Insulin đưa đến rối loạn chuyển hóa các chất, trước hết là chuyển hóa gluxit. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO - 1994) thì bệnh đái tháo đường biểu hiện bằng sự tăng đường huyết, rối loạn chuyển hóa đường, mỡ, đạm, thương kết hợp với giảm tuyệt đối hay tương đối về tác dụng hoặc tiết Insulin.
Đái tháo đường chiếm khoảng 60 - 70% trong các bệnh nội tiết. Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi theo từng nước, dân tộc, vùng địa lý khác nhau.