Chào mừng quý vị đến với website dongythoxuanduong.com.vn. Kính chúc quý vị an khang thịnh vượng.Nhà thuốc Thọ xuân đường chuyên khám chữa bệnh đa khoa bằng đông y.Những năm gần đây đã khám và điều trị cho trên 80.000 bệnh nhân.Kết hợp khám bằng máy chẩn đoán và thăm dò chức năng DDFAO - PRO MEDISCAN M, siêu âm, xét nghiệm, đo kinh lạc vi tính ( Việt Nam - Trung Quốc).Áp dụng phương pháp chế biến dược liệu sạch đảm bảo 100% không có chất bảo quản.Công nghệ sắc thuốc đóng túi hàng loạt của thế giới.Kỷ lục Guiness Nhà thuốc đông y gia truyền nhiều đời nhất Việt Nam.
Bệnh hen phế quản PDF. In Email
Thứ tư, 17 Tháng 3 2010 10:35

HEN PHẾ QUẢN

1. Y HỌC HIỆN ĐẠI

1.1. Đại cương:

Hen phế quản là tình trạng phản ứng cao độ ở phế quản trước nhiều kích thích khác nhau, biểu hiện đặc trưng là cơn khó thở với tiếng rít cò cử do co thắt cơ trơn phế quản, phù nề niêm mạc và tăng tiết dịch nhầy phế quản. Cơn khó thở có thể hồi phục (tự khỏi hoặc tự điều trị khỏi).

Hen phế quản rất phổ biến, ở Việt Nam hen phế quản chiêm 18.7% các bệnh phổi và chiếm 5% các cấp cứu nội khoa. Hen phế quản có thể gặp ở mọi lứa tuổi, khoảng một nửa số người bị hen xảy ra trên 10 tuổi va khoảng 1/3 xảy ra trước tuổi 40, nam bị nhiều hơn nữ.

1.2. Nguyên nhân bệnh:

Có nhiều nguyên nhân gây bệnh, song đều gây ra 2 loại tổn thương chính là viêm mạn tính đường hô hấp và tình trạng tăng cảm ứng của phế quản. Dựa vào nguyên nhân bệnh sinh mà người ta chia ra các thể bệnh chính gồm:

- Hen dị ứng (atopic asthma): hen thường do kích thích của các tác nhân bên ngoài môi trường như bụi, phấn hoa, lông súc vật và thực phẩm...Cơn hen thường xuất hiện bất ngờ nhưng cũng thoái lui đột ngột, dễ tái diễn. bệnh thường gặp ở trẻ em và có tính gia đình rõ rệt.

- Hen không dị ứng (nonatopic asthma): bệnh thường do các vi khuẩn, vi rút gây viêm đường hô hấp mạn tính.

- Hen do thuốc (drug - induced asthma): có rất nhiều loại thuốc có thể gây ra cơn hen, thường gặp nhất là aspirin

- Hen do nghề nghiệp (occupational asthma): người bệnh hít phải những loại bụi, các chất khí hoặc tiếp xúc với các hóa chất kích thích co thắt phế quản và tăng tiêt nhầy phế quản.

1.3. Triệu chứng bênh:

1.3.1. Lâm sàng:

Cơn hen thường xuất hiện đột ngột, thương về đêm hoặc khi thay đổi thời tiết. Những triệu chứng báo trước thường là hắt hơi, sổ mũi, ngứa mắt hoặc đỏ mắt, ho khan vài tiếng hoặc buồn ngủ. Bắt đầu cơn khó thở, khó thở chậm, khó thở ra tiếng cò cử mà người ngoài cũng nghe thấy, khó thở tăng đều dần, phải tỳ tay vào thành giường để thở, mệt mỏi, toát mồ hô, tiếng nói ngắt quãng. Cơn khó thở kéo dài 5 đến 10 phút, có khi hàng giờ, có khi cơn liên miên cả ngày không dứt. Cơn khó thở sau đó giảm dần và kết thúc là một trận ho và khạc đờm dãi. Đờm dãi màu trong quánh và dính, khạc được càng nhiều đờm càng dễ chịu. Hết cơn bệnh nhân có thể ngủ thiếp đi.

Trong cơn hen, lồng ngực bệnh nhân căng to, các cơ hô hấp phụ nổi rõ, mặt tím tái, nếu khám phổi nghe thấy rì rào phế nang giảm, có vùng phổi thở bù, nhiều tiếng ran rít và ran ngáy khắp hai phế trường. Gõ lồng ngực trong.Sau cơn hen khám phỏi có thể không thấy gì đặc biệt. Khám tim có thể thấy tim nhanh có khi 120 - 130 lần/1 phút, nhịp xoang có khi loạn nhịp ngoại tâm thu, huyết áp tăng.

1.3.2. Cận lâm sàng:

- X quang trong cơn hen có thể thấy cơ hoành ít di động, các xương sườn nằm ngang, các khoang liên sườn giãn rộng, 2 phế trường sáng, rốn phổi đậm.

- Đo VESM giảm (dung lượng khí thải ra giây đầu tiên khi thởi ra hết sức), DTS (dung tích sống) bình thường, chỉ số Tiffeneau giảm.

- Xét nghiệm máu thông thường, bạch cầu toan trong máu tăng cao. Tỷ lệ IgE trong huyết tương tăng.

1.4. Chẩn đoán:

1.4.1. Chẩn đoán xác định:

- Các cơn hen xảy ra trong điều kiện thời tiết giống nhau, cơn thường xảy ra ban đêm hay khi thời tiết thay đổi.

- Thời gian có cơn hen trong 2 năm liền là chắc chắn.

- Có thể chẩn đoán được cơn hen ngay lần đầu khi thầy thuốc chứng kiến được cơn khó thở, nghe phổi có ran rít, ran ngáy, khi hết cơn thì hoàn toàn bình thường.

1.4.2. Chẩn đoán phân biệt:

Cần chẩn đoán phân biệt hen với các cơn khó thở trong viêm thanh khí quản cấp ở trẻ em, cơn khó thở trong bệnh tim (hen tim), đợt cấp của viêm phế quản mạn tính, các khối u chèn ép phế quản gây khó thở, các cơn khó thở do dị vật trong phế quản.

1.4.3. Chẩn đoán nguyên nhân:

Chẩn đoán nguyên nhân hen phế quản rất khó khăn, song cần chú ý đến các nguyên nhân sau:

- Dị ứng: vai trò dị ứng trong hen phế quản đã được xác định, những chất gây dị ứng rất nhiều, vì vậy cần hỏi kỹ tiền sử và bệnh sử, nếu có điều kiện thì thử test trên da để xác định dị ứng với chất nào.

- Nhiễm khuẩn: Là nguyên nhân rất phổ biến làm khởi phát cơn hen, nhiễm khuẩn hô hấp làm các cơn hen nặng thêm.

- Nguyên nhân vật lý: thay đổi thời tiết, nhiệt độ, gió mùa, độ ẩm có thể liên quan trong việc phát sinh cơn hen.

- Những stress tinh thần: yếu tố tinh thần rất quan trọng, những stress tinh thần, tình cảm làm khởi phát cơn hen, làm bệnh nặng thêm hoặc giảm nhẹ.

1.5. Điều trị:

*Cơn hen không nặng:

- Nằm đầu cao, thoáng khí

- Khí dung Bricanyl, ulupent làm 2 lần cách nhau 20 phút

- Uống Theophylin 0,10; 6 - 8 viên/ngày, chia 2 lần.

* Cơn hen nặng:

- Hút đờm dãi qua ống khí quản

- Thở ôxy

- Tiêm tĩnh mạch chậm amynophilin hoặc diaphylin 5 ml với dung dịch glucose 5% 10ml

2. Y HỌC CỔ TRUYỀN

2.1. Bệnh danh: "Háo suyễn", "Đờm ẩm"

2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:

Nguyên nhân gây bệnh do cảm phải ngoại tà bên ngoài, ăm uống tình chí thất thường, làm việc quá sức. Về tạng phủ, do sự thay đổi hoạt động của tạng phế và thận, vì phế khí tuyên gián và thận nạp khí, bệnh có liên quan mật thiết với đàm. Đàm là sản vật bệnh lý do tỳ hư không vận hóa thủy thấp, thận dương hư không ôn tỳ dương vận hóa thủy cốc và không khí hóa được nước, phế khí hư không hóa giáng khó thở ngực đầy tức. Khi dùng thuốc nên căn cứ vào lý luận đông y: "Thận bất nạp khí", "Phế bệnh tại tỳ", "Tử bệnh lụy mẫu". Để tăng thêm kết quả điều trị, phải củng cố lâu dài.

2.3. Biện chứng luận trị:

2.3.1. Thể Hen hàn:

* Chứng trạng: Thở gấp, trong hầu có tiếng hen rít, ngực bí, đờm trong loãng, miệng không khát, thích uống nóng, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch phù hoạt.

*Pháp điều trị: Ôn phế tán hàn, hóa đờm bình suyễn.

*Bài thuốc: Xạ can Ma hoàng thang (Kim quỹ yếu lược) gia giảm

- Xạ can

09g

- Ma hoàng

09g

- Tế tân

05g

- Ngũ vị tử

05g

- Bán hạ

09g

- Tử uyển

09g

- Khoản đông hoa

09g

- Sinh khương

03 lát

- Đại táo

06 quả

* Ý nghĩa bài thuốc:

Bài thuốc này vốn có từ "Kim quĩ yếu lược", chữa ho mà khí lên, trong hầu hen lạnh như tiếng gà. Vưu Tại Kinh nói rằng: Ho mà khí lên, phế có tà thì khí không giáng mà ngược lên vây. Đàm ẩm ở trong phế lên nhập vào giữa hầu, bị khí của hít thở kích, thì cò cử như gà. Xạ can, Tử uyền, Khoản đông lợi phế khí; Ma hoàng, Tế tân, Sinh khương phát tà khí; Bán hạ giáng nghịch; Đại táo yên trung tiêu; Ngũ vị tử liễm phế ngại rằng thuốc tản ra làm tổn thương chính khí, thuốc tuy chín vị, hiệu quả điều trị đặc biệt rõ.

2.3.2. Thể Hen nhiệt:

*Chứng trạng: Hen suyễn gấp, trong hầu có tiếng gà, đờm đặc ho khó ra, trong ngực bí thở mạnh, miệng khát thích uống lạnh, miệng đắng mặt đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.

*Pháp điều trị: Thanh nhiệt tuyên phế, hóa đờm bình suyễn.

* Bài thuốc: Định suyễn thang (Nhiếp sinh trúng diệu phương) gia giảm

-

-

- Bạch thảo

10 quả (liền vỏ cùng đập)

- Ma hoàng

09g

- Tổ tử

09g

- Cam thảo

06g

- Khoản đông hoa

09g

- Hạnh nhân

09g

- Tang bạch bì

09g

- Hoàng cầm

09g

- Bán hạ

09g

*Ý nghĩa bài thuốc:

Phong hàn bó phần biểu, đờm nhiệt đốt ở trong, đờm nhiều khí gấp, ho hen suyễn. Trong bài thuốc Ma hoàng tuyên phế tán tà để bình suyễn, Bạch quả liễm phế định suyễn để khu đờm, cùng là thuốc quân, một tán một thu, vừa có thể tăng cường chức năng bình suyễn, lại phòng Ma hoàng hao tán phế khí; Tô tử, Hạnh nhân, Bán hạ, Đông hoa giáng khí bình suyễn, Chỉ khái khu đờm đều là thần; Tang bạch bì, Hoàng cầm thanh tiết phế nhiệt đều là tá; Cam thảo điều hòa các thuốc cũng là sứ. các thuốc gộp dùng phế khi được tuyên thông, nhiệt đờm được thanh, phong hàn được giải, suyễn ho đờm phần nhiều tự khỏi.

2.3.3. Bài thuốc khác:

Hen hàn, có thể dùng 1 ống dịch thuốc Tiểu thanh long, uống mỗi ngày 3 lần. Hen nhiệt 1 ống dịch uống Ngân hoàng, mỗi ngày 3 lần. Kết hợp với dịch Địa long tươi hoặc uống 1 ống Khu đờm linh, mỗi ngày 3 lần.

2.4. Phòng bệnh:

Chú ý giữ ấm, tránh kích thích quá nhạy cảm, tăng cường rèn luyện thể chất.


Tin cũ hơn:

 
Kham benh online, benh hen, benh dong kinh, benh xoang Thuoc Dong y chua benh xoang, benh hen, benh dong kinh

Trang chủ | Dịch vụ | Thương hiệu | Bệnh đã chữa khỏi | Bệnh đặc trị | C.tưởng bệnh nhân | Tư vấn khám bệnh | Đặt mua thuốc | Sức khỏe | Giới thiệu | PS Truyền hình |   
Thơ họ Phùng | Phong thủy | Thuốc bổ trường xuân | Hoàn phong thấp | Cao dán phong thấp | Bột dinh dưỡng | Thuốc quý | Thuốc ngâm Rượu | Bản đồ chỉ đường

NHÀ THUỐC ĐÔNG Y GIA TRUYỀN THỌ XUÂN ĐƯỜNG

CƠ SỞ 1: 99 - PHỐ VỒI - THƯỜNG TÍN  - HÀ NỘI ĐIỆN THOẠI: 04.3385.3321

CƠ SỞ 2: SỐ 7 TẬP THỂ THỦY SẢN - NHÂN CHÍNH THANH XUÂN - HÀ NỘI ĐIỆN THOẠI: 04.8587.4711 

Hotline: 1900.545557 or 0943.968.968  Fax: 1900545557 - WEBSITE: www.dongythoxuanduong.com - Email: dongy@thoxuanduong.com

Powerby:www.ckc.vn


Tư vấn SEO by Nova