| Bệnh giãn phế quản |
|
|
|
| Thứ tư, 17 Tháng 3 2010 10:31 | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
GIÃN PHẾ QUẢN 1. Y HỌC HIỆN ĐẠI 1.1.Đại cương : Giãn phế quản là một bệnh nhiễm trùng hoại tử mãn tính dẫn đến giãn liên tục, vĩnh viễn không hồi phục của các phế quản nhỏ và vừa (đường kính trên 2mm). do sự phá hủy tổ chức chống đỡ thành phế quản (lớp cơ, chun, sụn) 1.2. Cơ chế bệnh sinh : Bệnh có thể nguyên phát hoặc xẩy ra sau một số bệnh khác như cúm. sởi. ho gà. Các viêm phổi hoại tử (lao, bệnh nhiễm liên cầu hay nhiễm trùng phối hợp). các bệnh tắc nghẽn phế quản (u, dị vật, hen, viêm phế quản mạn) hoặc một số trường hợp trẻ em có bệnh bẩm sinh, di truyền (bệnh xơ nang, suy giảm miễn dịch). Tổn thương chủ yếu của giãn phế quản là các lớp cơ, lớp chun, lớp sụn của vách phế quản bị phá hủy làm suy yếu vách phế quản vĩnh viễn không hồi phục. khi gặp những điều kiện như thở mạnh, ho, xơ hay xẹp phổi, dày dính màng phổi sẽ làm cho nơi tổn thương phình to. Các bệnh gây tắc nghẽn hoặc nhiễm khuẩn của phế quản thường làm cho vách phế quản bị tổn thương. Ngoài ra, một số thể giãn phế quản còn do các bệnh bẩm sinh, di truyền (hội chứng Kartagener) hoặc suy giảm miễn dịch. 1.3. Triệu chứng : 1.3.1. Lâm sàng : Những triệu chứng cơ năng của giãn phế quản thường là : - Khạc đờm : thường là dấu hiệu gợi ý chẩn đoán. Khạc đờm nhiều, đờm có mủ, có khi hôi thối do vi khuẩn yếm khí, có khi đờm bị tắc không ra được, những đợt cấp bệnh nhân thường sốt cao kéo dài. - Ho ra máu : tuy số lượng máu ra vừa phải, song thường tái phát nhiều lần, kéo dài nhiều năm. Triệu chứng này do loét niêm mạc hoặc vỡ các mạch máu nhỏ trên bề mặt niên mạc phế quản. - Khó thở : Triệu chứng khó thở thường xuất hiện khi bắt đầu có biểu hiện suy hô hấp. - Khám phổi có thể thấy có ran ẩm, ran phế quản ở những vùng có tổn thương, có khi thấy tiếng thổi hang hoặc thấy có hội chứng đông đặc (khi có xẹp phổi). - Một số trường hợp có thể thấy dấu hiệu bàn tay khum (hội chứng Pierre Marie). 1.3.2. Cận lâm sàng : - Chụp X quang phổi, nhiều trường hợp thấy rốn phổi đậm, hình phổi sáng do giãn phế quản lan rộng hay cục bộ. - Chụp phế quản cản quang, phế quản giãn thường các phế quản phía dưới to hơn phế quản phía trên, có khi phế quản hình trụ hoặc hình chùm nho. - Soi phế quản quan sát lòng phế quản, có thể sinh thiết để chuẩn đoán mô bệnh học. - Thăm dò chức năng hô hấp, các chức năng hô hấp (VEMS, VC) có thể giảm. - Xét nghiệm máu, công thức bạch cầu, định lượng IgA trong máu. 1.4. Chẩn đoán : 1.4.1. Chẩn đoán xác định : - Dựa vào tiền sử ho kéo dài, ho nhiều đờm lẫn mủ, ho ra máu tái phát kéo dài, hoặc có móng tay khum. - Chụp phế quản cản quang. 1.4.2. Chẩn đoán phân biệt: - Viêm phế quản mủ. - áp xe phổi. - Lao phổi, kén hơi ở phổi. 1.5. Điều trị : - Dẫn lưu đờm phế quản chọn tư thế thích hợp, nằm sấp đầu dốc... - Hút đờm, rửa phế quản. - Thuốc long đờm : Benzoatnatri, thuốc iode. - Kháng sinh - Xử trí ngoại khoa với các trường hợp giãn phế quản do khối u chèn ép. 2. Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.1. Bệnh danh : "Phế ung","Khái huyết". 2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: Người bị bệnh này thường có cơ thể chính khí không đầy đủ, vệ ngoại không vững chắc, lại gặp khi cảm nhận phong nhiệt hoặc phong hàn, uất mà hóa nhiệt, vốn có đờm nhiệt ngăn ở trong, gộp tà ở trong ngoài, uất trệ ở phổi, Tà nhiệt chưng dịch thành đờm, ngăn tắt phế khiếu, dẫn đến khí không thông, huyết trệ thành ứ, đờm nhiệt và ứ huyết kết lẫn với nhau. Giai đoạn cuối, bệnh tái phát lặp đi lặp lại. 2.3. Bệnh chứng luận trị : 2.3.1.Thể phong nhiệt phạm phế : * Chứng trọng : Sốt, ho, đờm phần nhiều dính đặc, rêu lưỡi mảng vàng nhớt, mạch hoạt sác. * Pháp điều trị : Thanh phế hóa đờm. * Bài thuốc : Ngân kiều tán (Ôn bệnh điều biện) gia giảm.
* Ý nghĩa bài thuốc : Giai đoạn đầu, phong nhiệt phạm vào phế, đờm nhiều dính đặc, triệu chứng giống như mới phát của ôn bệnh, do vậy chọn dùng Ngân hoa, Liên kiều nhập vào kinh phế để thanh nhiệt,phối hợp Kinh giới, Ngưu bàng để sơ phong. Trúc diệp, Sinh thạch cao, Hoàng cầm thanh thực nhiệt của phế vị. cát cánh, Sinh can thảo ợi yết giải độc, tuyên phế khu đờm, tà được khu trừ thì chính tự yên. 2.3.2. Thể đờm nhiệt thịnh : * Chứng trạng : Sốt, ho, đờm nhiều mủ dính, sắc vàng hôi tanh, ho ra máu tươi, miệng khô thích uống nước lạnh, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác. *Pháp điều trị : Thanh nhiệt giải độc, hóa đờm chỉ huyết. *Bài thuốc : "Thiên kim vĩ hành thanh" (Thiên kim yếu phương) gia giảm.
* Ý nghĩa bài thuốc : Bệnh có sốt cao, ho, đờm nhiều dịch dính, sắc vàng tanh hôi, ho thổ máu tươi. Vĩ hành ngọt hàn nhẹ nổi, chữa ho thổ đờm máu mủ hôi; Đông qua nhân giúp thanh nhiệt hóa đờm, lợi thấp bài nùng, thanh thượng tháo hạ. Đào nhân hoạt huyết hóa ứ, nhằm tiêu nhiệt kết. Dĩ nhân ngọt nhạt hơi hàn, trên thanh phế nhiệt, hóa đàm bài nùng, dưới lợi tiểu trường mà thảm thấp. Phối hợp Tri mẫu, Sinh thạch cao, Hoàng cầm thanh thưc nhiệt của phế vị. Bạch cập, Bạch mao căn mát huyết cầm máu. Các thuốc dùng thì nhiệt lui, đờm khu trừ, huyết chỉ. 2.3.3.Thể can hỏa phạm phế: * Chứng trạng : Thổ máu tươi hoặc tím tối, miệng đắng sườn đau, mắt đỏ dễ cáu, bứt rứt không yên, chát lưỡi đỏ sẫm, rêu lưỡi vàng, mạch huyễn sác. * Pháp điều trị : Thanh can tả hỏa, lương huyết chỉ huyết. * Bài thuốc : Đan chi tiêu dao tán (Tiết thị y tán) gia giảm.
* Ý nghĩa bài thuốc : Can hỏa phạm vào phế, can thổ máu tươi, đây có cả hai chứng thiếu dương và tiểu kết hung, ngực hoang bĩ mãn hỏa hình kim, do vậy chọn bài thuốc này thanh tả can hỏa. Trong bài thuốc Long đởm thảo tả nhiệt của Túc quyết âm can kinh; Sài hồ thanh nhiệt của Túc thiếu dương đởm kinh; Chi tử, Đan bì thanh nhiệt của Tam tiểu và huyết phần. Phối hợp Sinh địa, Xích thược, mao căn, Tây thảo, Trắc bách diệp mát huyết cầm máu. Mộc hỏa được bình, huyết tự yên. 2.3.4. Bài thuốc khác : Đờm mủ nhiều : Vân nam bạch dược 03g, uống với nước nguội, mỗi ngày 3 lần. 2.4. Phòng bệnh : Phòng cảm cúm, cai rượu, thuốc, kiêng cay và các hải vị.Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|






























