| Chuyến xe về “nguồn tâm linh” |
|
|
|
|
Vâng! Chỉ có thể nói như thế mới đúng bản chất của chuyến về thăm lại chiến trường xưa do Quỹ mãi mãi tuổi hai mươi và CCB Tăng thiết giáp phối hợp tổ chức nhân dịp kỷ niệm 50 năm Đường Trường Sơn - Hồ Chí Minh lịch sử. Sau khi thắp hương tại Đài tưởng niệm các liệt sĩ vô danh, đoàn xe chúng tôi hơn sáu chục người rời Thủ đô tới tỉnh Hòa Bình - nơi các anh từng được huấn luyện chiến đấu, theo Đường Hồ Chí Minh qua Đường 9 Nam Lào với các địa danh quen thuộc như Đô Lương, Truông Bồn, đèo Đá Đẽo, Khe Ve, Khe Vát, phà Long Đại, cầu Hiền Lương, Cửa Tùng, Thành cổ Quảng Trị, Nghĩa trang Đường 9, Nghĩa trang Trường Sơn và điểm dừng chân cuối cùng là Bệnh xá Đặng Thùy Trâm (Quảng Ngãi).
Con đường núi đá Trường Sơn xưa kia không một dấu chân người, các anh phải vạch lá mà đi, đêm tối chỉ có "ánh chớp soi đường hành quân"... Còn bây giờ, chúng tôi được ngồi trên xe chất lượng cao có máy điều hoà, ghế đệm êm, bon bon trên con đường nhựa phẳng lỳ, vậy mà ai cũng thấm mệt. Những cơn mưa bất chợt của rừng Trường Sơn như giúp chúng tôi hiểu thêm con đường xưa các anh đi vất vả đến nhường nào. Có những đoạn đường khúc khuỷu, dốc cua tay áo, xe nghiêng đến... thót tim, cả xe dường như nín thở để bác tài tập trung tay lái. Suốt chặng đường dài hơn hai ngàn cây số, những bài hát, những vần thơ về Trường Sơn một thời máu lửa được nhắc lại như một kiểm định. "Ung dung buồng lái ta ngồi, nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng". Núi rừng Trường Sơn đẹp quá, hùng vĩ quá! Kia, những con suối uốn lượn như con trăn trắng khổng lồ bò chân núi, những hoa chuối đỏ rực trên nền lá xanh ngát như những đuốc lửa gợi nhớ quê nhà. Xe chạy từ từ bỏ lại phía sau vài căn nhà sàn nho nhỏ của đồng bào Pa-kô, Kơ-ho thấp thoáng trong tán cây rừng. Chiều dần buông. Nắng xiên vạt rừng, làn khói bếp phủ mờ trên từng mái nhà sàn, chắc ở đó có một gia đình ấm cúng. Anh Nguyễn Văn Cúc (em trai liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc) luôn nhìn ra cửa kính, giơ tay vẫy chào mỗi khi thấy bọn trẻ cởi trần, hau háu nhìn chạy theo xe. Chúng lạ lẫm vì thấy người lạ trên ôtô với nụ cười thân mật chào chúng như thể người thân quen, lạ vì nghe thấy tiếng hát vang vang từ xe ôtô theo gió vọng lại. Chúng tôi cất cao lời hát ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi Trường Sơn, ca ngợi "người chiến sĩ, ai đã gặp không thể nào quên"- những bài hát bất hủ được hát đi hát lại nhiều lần, nghe mãi vẫn thấy đầy hứng khởi. Chặng đường gian nan nhất phải kể đến là chặng từ Đăk Krông (Quảng Trị) vào Quảng Nam rồi xuống Đà Nẵng. Con đường khoảng 300 cây số mà phải mất hơn 10 giờ đồng hồ mới tới nơi được. Chúng tôi đã hiểu thế nào là "trên đỉnh Trường Sơn" với một bên là vực sâu hun hút, ngửa mặt chỉ thấy những vì sao lấp ló trên đỉnh đầu, ai cũng chờn chợn lo âu. Nhưng hình như linh hồn của các liệt sĩ đã theo đoàn xe chúng tôi. Chả thế mà cứ mỗi lần dừng xe, mọi người vào thắp hương tại các nghĩa trang liệt sĩ, chúng tôi như được vong hồn của các anh bộ đội, các chị TNXP phù hộ. Trời đang nắng lại chuyển sang râm mát, trời đang mưa như xối rồi tạnh ngay. Cứ thế, con đường hành quân về thăm lại chiến trường xưa dường như ngắn lại. Mẹ liệt sĩ Lê Thị Thơm, mẹ Doãn Ngọc Trâm (mẹ của anh hùng liệt sĩ Đặng Thùy Trâm) ở tuổi 80 vẫn cười tươi, như cái mệt mỏi chưa thể chạm đến được các mẹ. Các mẹ vui và tự hào vì được đi lại trên con đường mà chính bước chân của các con mẹ đã đi. Trên xe, có nhiều thế hệ tuy ở các ngành nghề khác nhau nhưng cùng mong muốn thắp một nén nhang cho các anh dưới mộ. Người cao tuổi nhất là bác An Ngọc Phong 76 tuổi từ Tuyên Quang về. Hai ngày trước khi đi, bác phải đến bệnh viện vì cơn sốt rét tái phát, nhưng với quyết tâm về với đồng đội để thắp một nén nhang cho người bạn thân có tuổi xuân vĩnh viễn nằm lại chiến trường. Mới nghĩ đến đó, bác như được tiếp thêm sức mạnh vô hình nên đã vượt qua bạo bệnh. Trên xe, bác hào hứng kể lại kỷ niệm thời binh lửa, hát vang những ca khúc kháng chiến với giọng khoẻ khoắn như chưa hề có lần ốm đau. Các anh: Trần Quang Anh, Ngô Quang Năng, Nguyễn Văn Mão, Hoàng Sâm, Hoàng Việt Tiến, Sỹ Nguyên, Phạm Văn Quảng... nhập ngũ thời sinh viên nay đã ở tuổi sáu mươi, mái tóc pha sương nhưng xưng hô với nhau "mày - tao" thân mật, gọi "biệt danh" của nhau như hồi trai trẻ. Họ đang ngược về mãi mãi tuổi hai mươi. Các anh thi nhau kể lại kỷ niệm ấm tình đồng đội, chuyện lính ngố trong yêu đương, chuyện nhường nhau từ miếng ăn, san sẻ cho nhau từng hớp nước, đeo hộ nhau từng phần nặng nhọc dọc đường hành quân. Tất cả chỉ là ký ức của bốn chục năm về trước mà giờ như hiển hiện trước mắt những trận đánh quyết liệt với kẻ thù, những sự chịu đựng gian khổ, hy sinh mà văn thơ có nói mãi cũng không hết. Trên xe, tiếng cười rất nhiều nhưng nước mắt cũng không ít, có lúc cả xe lặng đi vì nỗi xót thương bao trùm. Anh Phạm Văn Tình ngậm ngùi kể lại: "Khi tôi là cán bộ chính trị của Mặt trận Thành cổ Quảng Trị những ngày đêm đỏ lửa. Trận lớn nhất là ở động Ông Do đánh vào phía Tây Thành cổ. Sau mỗi trận địch pháo kích, ta lại mất đi đến phần ba quân số, có trận gần như mất cả đại đội. Vừa được bổ sung quân số, toàn lính trẻ thư sinh, tôi chưa kịp nhớ tên, rõ mặt, sau trận đánh đã phải đem các anh đi chôn. Có nhiều anh bị bom đánh trúng hầm, sau tiếng nổ chỉ còn đám bụi đất, thì hỏi còn đâu cái lọ penicillin viết sẵn tên tuổi, đơn vị. Tại các nghĩa trang còn rất nhiều ngôi mộ chưa biết tên cũng là vì thế... Tôi quyết tâm dành thời gian đi chuyến này để mong tự tay thắp cho đồng đội mình dẫu chỉ là một nén nhang, nhưng cái chính là để lòng mình vợi đi phần nào day dứt, tự thấy mình chưa tròn trách nhiệm với các anh đã hy sinh cho tôi được có ngày ngồi trên xe hôm nay". Nghe chuyện anh kể, tôi chợt nhớ mấy vần thơ của nhà thơ, thương binh nặng Đỗ Việt Dũng đọc trên xe: Anh hiến dâng trọn vẹn đời mình/ Đến hài cốt cũng không còn nữa/ Xương thịt gửi vào núi sông cây cỏ/ Ôi ! Sự tận cùng của mọi sự hy sinh... Chỉ có linh hồn về với quê hương. Nghe anh Dũng tâm sự: Bốn mươi năm sau chiến tranh/ Những người lính không còn trẻ nữa/ Quá khứ một thời máu lửa/ Ký ức Trường Sơn réo gọi chúng tôi anh về.../ Nhớ chiến trường như thương nhớ làng quê/ Vì ở đó còn bao nhiêu đồng đội / Hiu hắt ngàn bia không tên không tuổi/ và bao linh hồn lưu lạc rừng xa.../ Tuổi trẻ đến Trường Sơn giờ là du lịch/ Chúng tôi đến Trường Sơn để sống lại một thời, mới thấy quý trọng biết bao tình cảm của người lính: son sắt, thủy chung mà sâu lắng, thiết tha... Ngồi cạnh tôi là anh Nguyễn Đức Minh. Mấy ngày trên xe, anh có dáng vẻ bề ngoài hơi lập dị, rất kiệm lời, chốc chốc lại thò tay vào túi áo trong ngực lấy ra cái bi đông dẹt - chiến lợi phẩm của Mỹ, ngửa cổ nhấp ngậm vài giọt rượu. Có người bảo anh bị "hội chứng" chiến tranh. Mấy năm liền, từ khi nghỉ hưu, cứ độ cuối năm, với đồng lương ít ỏi của mình, anh tự lo cho mình một chuyến vào "trong ấy" với đồng đội để thắp nén hương đầu tiên vào ngày mồng 1 Tết âm lịch tại Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Coi việc làm đó như một trọng trách. Có người can, nhưng anh không chịu. Thế mới biết tình đồng đội quá đỗi thiêng liêng đến vậy. Biết có đốt cả một trời hương khói/ Vẫn day dứt khôn nguôi trước những nấm mồ. Cả xe hát vang những ca khúc truyền thống như: Năm anh em trên một chiếc xe tăng, Đêm Trường Sơn nhớ Bác, Hát mãi khúc quân hành..., anh chỉ im lặng, nhưng khi quay ra Hà Nội, những giai điệu sôi nổi ấy như có sức cuốn hút kỳ lạ, để rồi anh cũng bật hát theo một cách nhiệt thành. Khi xe đến Nghĩa trang Truông Bồn (xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An), chúng tôi được biết đội TNXP làm đường có 14 người (trong đó có 2 nam) bị trúng bom hy sinh năm 1967 khi cuộc chiến đang vào thời kỳ ác liệt. Duy chỉ có chị Thông may mắn được kịp thời cứu sống nhờ đồng đội bới đất, thấy nòng súng lộ ra. Chẳng hề duy tâm, nhưng tôi không thể lý giải nổi chuyến đi có cuộc hạnh ngộ bất ngờ tại đây. Đó là lão nông Đặng Văn Nghị - nguyên y tá đơn vị cũ của ông Phong - chính trị viên Tiểu đoàn xe tăng. Người ông nhỏ thó. Đang trên đường vào rừng với con dao quắm trên vai, chợt thấy đông người từ ô tô vào viếng nghĩa trang, từ xa, ông đã nhận ngay ra thủ trưởng của mình, liền gọi thất thanh: "-Anh Phong". Ông Phong quay lại. Họ nhận ra nhau, ôm hôn thắm thiết: "-Tôi tưởng anh hy sinh rồi chứ". Ông Nghị quay sang bên cạnh: "- Đại tá Mão còn nhớ tôi không?" Anh Mão nghe nhắc đến tên, ngần ngừ ngắm lại ông bạn thêm chút nữa rồi chợt nhớ ra: "- Nghị hả? Mão đây. Vợ con cậu thế nào?...". Những câu hỏi thăm dồn dập trước sự vui mừng của những người trên xe dù không quen biết nhưng không ai cầm lòng được vì tận mắt chứng kiến tình cảm đồng đội sau hơn bốn chục năm bặt tin nay tình cờ gặp lại. Đặc biệt thế đấy! Chắc là các vong linh liệt sĩ run rủi đây. Ai cũng bảo như vậy. Gần 12 giờ trưa hôm sau, đoàn chúng tôi mới tới Bệnh xá Đặng Thùy Trâm ở xã Đức Cường, huyện Đức Phổ - Quảng Ngãi. Quên cả đói, nóng bức, mẹ Doãn Ngọc Trâm bước vội đến tượng con gái Đặng Thùy Trâm của mình được đúc bằng thạch cao trắng để chụp ảnh kỷ niệm. Lần đầu tiên mẹ và những người trong đoàn được đặt những bông hoa trắng tinh khiết bên chân tượng. Con gái mẹ không chết. Chắc hẳn chị đang hạnh phúc vì được gặp mẹ thì khuôn mặt chị mới tươi trẻ như thế chứ. Anh Đỗ Việt Dũng lặng lẽ đặt gói nilon đựng quả bồ kết khô mà vợ anh dặn từ nhà "nhớ thay em đặt lễ thắp hương cho chị Trâm đấy nhé!". Một thanh niên mặc áo blu nhẹ nhàng rút quả bồ kết ra đốt. Hương thơm tỏa ngát khắp phòng. Có lẽ chị Trâm bằng lòng cảm nhận rồi! Chị nhỉ? Sau khi Thiếu tướng, nhà văn, Tổng biên tập báo Công an nhân dân Hữu Ước tặng bệnh xá bức tranh sơn dầu Lửa Trường Sơn do chính tay mình vẽ, đã hát vang bài ca ngợi chị Trâm mà anh mới sáng tác. Vâng! Chính thế hệ các chị, các anh đi trước đã ngã xuống vì quê hương là nguồn cảm hứng vô tận cho giới sáng tác văn học nghệ thuật. Còn tôi, một công dân bình thường muôn ngàn lần cảm ơn các văn nghệ sĩ đã nói hộ chúng tôi lòng biết ơn sự hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh, thế hệ mà lịch sử sẽ tạc chân dung. Theo suckhoedoisong Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|






























