Chào mừng quý vị đến với website dongythoxuanduong.com.vn. Kính chúc quý vị an khang thịnh vượng.Nhà thuốc Thọ xuân đường chuyên khám chữa bệnh đa khoa bằng đông y.Những năm gần đây đã khám và điều trị cho trên 80.000 bệnh nhân.Kết hợp khám bằng máy chẩn đoán và thăm dò chức năng DDFAO - PRO MEDISCAN M, siêu âm, xét nghiệm, đo kinh lạc vi tính ( Việt Nam - Trung Quốc).Áp dụng phương pháp chế biến dược liệu sạch đảm bảo 100% không có chất bảo quản.Công nghệ sắc thuốc đóng túi hàng loạt của thế giới.Kỷ lục Guiness Nhà thuốc đông y gia truyền nhiều đời nhất Việt Nam.
Kinh dịch và học thuyết âm dương
Xem kết quả: / 2
Bình thườngTuyệt vời 
Âm dương - bát quái bắt nguồn từ quan tượng và ứng tượng của người xưa. thế nào gọi là quan tượng? Tượng tức là hình tượng, hiện tượng, dấu hiệu. Quan tượng chính là sự quan sát hình tượng, hiện tượng của sự vật.

Đây là phương pháp tư duy sớm nhất của người xưa. Quan tượng sớm nhất là quá trình quan sát hiện tượng thiên nhiên, bao gồm Mặt trời, Mặt trăng và các vì sao, giống như trong " Dịch truyện" có ghi " tượng kỳ vật nghi thị cố vị chi tượng", " thị cố dịch giả tượng dã, tượng dã giả tượng dã", " Cổ giả bào hi thị chi vương thiên hạ dã, ngưỡng tắc quan tượng vu thiên, phủ tắc quan pháp vu địa, quan điểu thú chi vân"

Nguồn gốc xuất hiện Âm Dương sớm nhất dựa vào bối cảnh thiên văn của sự vận động của Mặt trời và Mặt trăng. Người xưa sớm có một mối quan hệ không thể tách rời với Mặt trời. Truyền thuyết " Khoa Phụ Truy Nhật" của người xưa đủ để nói lên sự ngưỡng vọng của con người đối với Mặt trời, bởi vì Mặt trời tượng trưng cho ánh sáng, ấm áp, đối lập với nó là tăm tối và giá lạnh: Người xưa quan sát hiện tưọng mặt trời lặn và mặt trời mọc, hai kết quả trái ngược nhau là bóng tối và ánh sáng, đồng thời từ đó họ có hai khái niệm đối lập nhau, về sau nó được đem ví cho hai phạm trù đối lập là ban đêm và ban ngày.


Người xưa cũng chú ý đến ảnh hưởng vị trí cao thấp của Mặt trời đến nhiệt độ, vì thế mà có khái niệm mùa Đông và mùa Hè, giá rét và ấm áp. Ngưòi xưa còn phát hiện ra rằng Mặt trời ở những vị trí khác nhau thì có ảnh hưởng không giống nhau đến độ dài ngắn của bóng nắng vì thế mà phát minh ra khuê biểu đo thời gian. Vì người xưa đứng trên núi quan sát bóng nắng, nên có được các cặp phạm trù sơn dương và sơn âm, hướng dương và bội âm, bởi vậy trong " Kinh thi" có viết ; " Ký luỹ nãi cương, tương kỳ Âm Dương" ( tạm dịch đã nhiều lần đứng trên núi cao, so sánh hai bên núi trong ánh mặt trời, nó tương tự như Âm Dương vậy). Người xưa còn thấy mặt trời mọc là lúc mọi người ra khỏi nhà bắt đầu công việc canh tác, khi mặt trời xuống núi cũng là lúc mọi người về nhà nghỉ, vì thế mà có khái niệm động và tĩnh. Ngoài ra, những phạm trù như xuất và nhập, hướng ngoại và hướng nội, cũng đều được xuất hiện cùng với sự vận động của mặt trời. Như càn khôn bát quái trong Kinh dịch đã sử dụng hình tưọng " tiềm" ( tức động) và " duyệt" ( tức tĩnh) để phản ánh sự thay đổi của hiện tượng tự nhiên.

Ngoài ra, dưới ánh thái dương chiếu rọi vạn vật đều trở nên hoà quyện mà nhu mềm, khi ánh thái dương yếu ớt thì vạn vật trở nên giá lạnh, thậm chí kết băng vì thế mà có sự phân biệt giữa cương và nhu. Bởi thế, tất cả mọi thứ sáng sủa, ấm áp, thuộc tính động, quang tạnh, hướng ngoại, ở bên trên, cao, hướng dương, khô ráo, cường tráng, cương tính, nam tính đều thuộc về Dương, ngược lại tất cả những thứ thuộc về tối tăm, giá lạnh, tính tĩnh, hướng nội, u ám, bên dưới, thấp, ẩm ướt, nhu tính, nữ tính đều thuộc về Âm. Đủ để thấy được thuộc tính hai mặt đối lập tồn tại trong vạn vật đều có liên quan đến mặt trời, đều có thể lấy hình ảnh Hướng dương và Bội dương để khái quát, cũng tưc là đều có thể được bao quát bằng Âm Dương.

Từ đó mà xuất hiện khái niệm Âm Dương, qua đó nó cũng chứng minh nguồn gốc xuất hiện của Âm Dương từ quan tượng sớm nhất. Lương Kỳ Siêu Thị có chú ý đến hình tượng của hai chữ Âm Dương ( trong cuốn " nguồn gốc của thuyết Âm Dương ngũ hành" đăng trên tạp chí Đông Phương, quyển 20, kỳ 20, xuất bản năm 1993). " Thuyết văn" dịch nghĩa là " mây che phủ mặt trời", chữ Dịch trong " Thuyết văn" dịch có nghĩa là "mở ra". Tức là khái niệm về "Tĩnh" (tức " quang tạo" ) và Âm ( tức "âm u") (dẫn từ " Nguồn gốc thiên văn học Trung Quốc" của Trịnh Văn Quang, nhà xuất bản Khoa học, năm 1979, trang 225). Thế nào gọi là ứng tượng? "Ứng" nghĩa là " tương ứng". Ứng tượng là sự phát triển của quan tượng. Nếu quan tưọng là quá trình tư duy trực tiếp thì ứng tượng là phương pháp tư duy trừu tượng " loại suy", " pháp tượng", hay nói cách khác ứng tượng là sự phát triển từ quan tượng đến pháp tượng. Do vạn vật trong vũ trụ dường như đều tồn tại trong nó hai mặt đối lập như kiểu Âm Dương, tức là đều có thể được khái quát bởi hai mặt đối lập Âm Dương, cái đó gọi là ứng tượng Âm Dương. Chẳng hạn như thiên địa, to nhỏ, đẹp xấu, nam nữ, đực cái...đều có thể coi là ứng tượng Âm Dương, những thứ khác như dài ngắn, cao thấp, to nhỏ, đẹp xấu, thuỷ hoả... lại đều là sự suy diễn từ hai mặt đối lập Âm Dương, dưới tiền đề của ứng tượng Âm Dương, vạn vật trong vũ trụ đều có thể được khái quát bởi mặt đối lập Âm Dương, cái đó gọi là ứng tượng Âm Dương, giống như trong cuốn " luận về ứng tượng Âm Dương" của Tố Vấn có nói: " Cái gọi là Âm Dương, đếm chỉ có 10 nhưng suy diễn có thể lên hàng trăm, đếm là một ngàn nhứng suy diễn có thể là hàng vạn. Do vậy, đối với Âm Dương thiên địa, không thể đếm và suy, chỉ có thể diễn đạt qua hình tưọng mà thôi". Do vậy, Âm Dương có thể coi là " cái đạo của Trời Đất, là kỷ cương của vạn vật, là nguồn gôc của mọi sự thay đổi, là ngọn nguồn của sự sinh diệt" ( theo luận về ứng tượng Âm Dương của Tố Vấn). " Dịch truyện" đưa ra đạo " nhất Âm nhất Dương", coi Âm Dương là hiện tượng phổ biến căn bản của vũ trụ, nó đã tạo ra bước phát triển quan trọng trong quan tượng và ứng tượng Âm Dương. Cuốn " Dịch truyện" đã trình bày và phân tích cặn kẽ về Âm Dương, vì thế mà chính Trang Tủ đã nói " Dịch truyện là để nói về Âm Dương". Chữ " Dịch" trong "Kinh dịch" theo chữ tượng hình tức là Mặt trời và Mặt trăng, trong Thuyết văn có viết " Nhật nguyệt vi Dịch, tượng Âm Dương dã" ( tạm dịch là mặt trời và mặt trăng ghép thành chữ "Dịch", cũng là tượng trưng cho Âm Dương").

Điều đó đủ làm sáng tỏ sự xuất hiện và quan tượng Âm Dương, đặc biệt là mối quan hệ chặt chẽ giữa hình tượng Nhật và Nguyệt. Chính vì sự xuất hiện của Âm và Dương có mối quan hệ chặt chẽ với Nhật và Nguyệt, do đó " Thuyết văn" đã viết: "Dịch" là sự vận động của Mặt trời và Mặt trăng, đồng thời chỉ ra "Dịch" là dấu hiệu của Âm Dương, điều này không phải là không có cơ sở của nó. Chữ "Quái" trong từ "Bát quái", bản thân nó có một mối quan hệ mật thiết với Nhật ảnh ( tức bóng nắng) chữ " Khuê" trong chữ "Quái", chính là chỉ Khuê biểu đồ cổ đại. Bát Quái trên thực tế chính là " biểu khuê", đó là những vạch ký hiệu đo bóng nắng ở những vị trí khác nhau, Bát Quái được tạo bởi những nét hào. Nét hào trong " Thuyết văn" và trong nhiều thư tịch cổ được giải thích là chữ " giao" ( tức giao cắt) tượng trưng cho tia sáng bị giao cắt coi nét hào là những tia sáng, sáu nét hào chỉ sự thay đổi của các tia sáng ở những góc độ khác nhau, vì thế " Hệ từ" có giải thích " nét hào, có thể coi đó là sự biến hoá". Quan tượng trng thiên văn học cổ xưa lấy Mặt trăng và Mặt trời, đặc biệt lấy Mặt trời là đôi tượng chính, về sau đã phát minh ra Khuê biểu đo bóng nắng để tính thời gian. Như vậy, trong thời kỳ phát triển mạnh của thiên văn học cổ, người xưa đã lấy nét hào dương "-" tượng trưng cho tia sáng của Mặt trời ( nhật quang), lấy nét hào âm "- -" tượng trưng cho tia sáng Mặt trăng (nguyệt quang) do ánh sáng Mặt trăng yếu ớt nên thuộc về đêm tối, lạnh giá. Từ đó người xưa đã phát triển quan niệm Âm Dương từ sự hoán chuyển giữa ánh sáng Mặt trời và ánh sáng Mặt trăng, giữa ngày và đêm. Đồng thời, dùng hình tượng Bát Quái để khái quát oán chuyển giữa ánh sáng Mặt trời và ánh sáng Mặt trăng, việc này thực tế là sự tương ứng giữa Bát quái và hiện tượng thiên nhiên.

Do vậy, việc quan sát hiện tượng thiên nhiên Mặt trời và Mặt trăng và ứng tượng trong Bát quái của người xưa là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện Âm Dương và hình thành nên Bát Quái.

Theo http://vietyduong.net/view_news.aspx?nid=147


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
Kham benh online, benh hen, benh dong kinh, benh xoang Thuoc Dong y chua benh xoang, benh hen, benh dong kinh

Trang chủ | Dịch vụ | Thương hiệu | Bệnh đã chữa khỏi | Bệnh đặc trị | C.tưởng bệnh nhân | Tư vấn khám bệnh | Đặt mua thuốc | Sức khỏe | Giới thiệu | PS Truyền hình |   
Thơ họ Phùng | Phong thủy | Thuốc bổ trường xuân | Hoàn phong thấp | Cao dán phong thấp | Bột dinh dưỡng | Thuốc quý | Thuốc ngâm Rượu | Bản đồ chỉ đường

NHÀ THUỐC ĐÔNG Y GIA TRUYỀN THỌ XUÂN ĐƯỜNG

CƠ SỞ 1: 99 - PHỐ VỒI - THƯỜNG TÍN  - HÀ NỘI ĐIỆN THOẠI: 04.3385.3321

CƠ SỞ 2: SỐ 7 TẬP THỂ THỦY SẢN - NHÂN CHÍNH THANH XUÂN - HÀ NỘI ĐIỆN THOẠI: 04.8587.4711 

Hotline: 1900.545557 or 0943.968.968  Fax: 1900545557 - WEBSITE: www.dongythoxuanduong.com - Email: dongy@thoxuanduong.com

Powerby:www.ckc.vn


Tư vấn SEO by Nova