|
Bản tiếng Hán của ngài Huyền Trang:
QuánTựTại BồTát hành thâm Bátnhã Balamậtđa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai Không [độ nhất thiết khổ ách]. Xá Lợi Tử, sắc bất dị Không, Không bất dị sắc, sắc tức thị Không, Không tức thị sắc; thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp Không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố Không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỵ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí, vô đắc, [diệc] [vô bất đắc]. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn.
Tam thế chư Phật y Bátnhã Balamậtđa cố đắc Anậuđala Tammiệu Tambồđề. Cố tri Bátnhã Balamậtđa, [thị đại thần chú,] thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thực bất hư. Cố thuyết Bátnhã Balamậtđa chú, tức thuyết chú viết, Yếtđế yếtđế balayếtđế balatăngyếtđế bồđề tátbàha.
Luận Giải
BÁT NHÃ: trí huệ, BALAMẬTÐA: Vượt ra ngoài sự giới hạn, bên kia bờ, toàn hảo. Trí huệ toàn hảo, trí-huệ về tánh-Không. TÂM KINH: bài kinh thâu tóm phần tinh túy ("tâm") về tánh Không. // Ðây là bài kinh tóm tắt một cách rất sơ lược về tánh Không, điểm trọng yếu trong nhà Phật. Người đọc cần có kiến thức tổng quát về Phật Pháp như Tứ Diệu Ðế, Mười Hai NhânDuyên, Ngũ Uẩn, tánh Không, v.v... đã được bàn qua trong các chương trước (của tập PhậtPháp CănBản). // Quán TỰ TẠi BỒ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mẬt đa thỜi, chiẾu kiẾn ngũ uẨn giai không [đỘ nhẤt thiẾt khỔ ách]. QuánTựTại Bồtát khi thực hành sâu xa về Trítuệ tánh-Không thì trực nhận được ngũ Uẩn đều không có tự tánh [nhờ đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn]. Chữ Phạn "Avalokiteshvara" được phân tích như sau: Ava: xuống [down;] lokita: nhìn, quán [look, view, contemplate;] ishvara: đấng, bậc Thánh; avalokita: nhìn xuống. Như vậy dịch sát nghĩa thì "Avalokiteshvara" là vị thánh nhìn xuống, nhưng thường được diễn dịch là Quán Thế Âm BồTát (vị BồTát lắng nghe tiếng kêu khóc của thế gian.) "Avalokiteshvara" trong bài BátNhã Tâm Kinh được các thầy TrungHoa dịch là Quán Tự Tại BồTát, tuy diễn dịch này đi hơi xa ý nghĩa của Phạn ngữ nhưng tên gọi này gọn và quen thuộc nên ở đây ta giữ nguyên. Thâm theo cú pháp Phạn văn là tĩnh từ. Chiếu kiến nghĩa là soi thấy. Ðây là giai đoạn trí huệ rốt ráo ("thâm Bát nhã") nên ta sẽ hiểu "chiếu kiến" là trực nhận. Ngũ uẩn bao gồm tất cả các hiện tượng vật chất kể cả thân xác (sắc) và tất cả các hiện tượng tinh thần (thọ, tưởng, hành, thức). Nói gần Ngũ Uẩn nghĩa là một chúng sinh, nói xa Ngũ Uẩn hàm nghĩa là cả thế gian. Không chẳng phải là không-zero (đối với có) vì đây là bài kinh nói về tánh-Không, nên tất cả các chữ Không trong bài đều mang ý nghĩa tánh-Không - không tự tánh, không thật có, không thực chất, không hiện hữu độc lập. Bản Phạn văn không có câu "độ nhất thiết khổ ách," thật ra câu này ở đây có vẻ dư thừa vì ở cuối bài kinh đã có câu "năng trừ nhất thiết khổ." Xá LỢi TỬ, sẮc bẤt dỊ không, không bẤt dỊ sẮc, sẮc tỨc thỊ không, không tỨc thỊ sẮc. ThỌ tưỞng hành thỨc diỆc phỤc như thỊ. Này Xá Lợi Phất, Sắc và tánh-Không chẳng thể phân ly, Sắc biểu hiện được là nhờ tánh-Không và Không chính là bản tánh của Sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức và tánh-Không chẳng thể phân ly, Thọ, Tưởng, Hành, Thức biểu hiện được là nhờ tánh-Không và Không chính là bản tánh của Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Đến đây bài kinh phân tích từng thành phần trong ngũ uẩn, cho thấy sự liên hệ giữa tánh-Không và tất cả các hiện tượng tinh thần, vật chất. Xá Lợi Tử từ chữ Phạn là Shariputra nghĩa là người con dòng Shari. Nhưng đây là tên riêng nên ta vẫn sẽ đọc theo âm tiếng Phạn Xá Lợi Phất như trong các bài kinh khác. Trước hết, xin lập lại Không đây chẳng phải là không-zero. Nếu cho nó là không-zero tức là ta rơi vào lỗi lầm đoạn kiến. Ta thường nghe nói về ẩn dụ "sóng là nước, nước là sóng," với mục đích muốn chứng minh sắc (sóng) là tánh-Không (nước) và tánh-Không là sắc. Ẩn dụ này không được chỉnh. Vì khi nước giao động nó biến đổi thành sóng, và sóng chính là nước ở một dạng khác; trong khi Không là tánh chất [characteristic, nature] của sự vật, nó không hề giao động, nó chẳng thể biến đổi thành một cái gì khác. Bây giờ ta xét định đề sau: Nếu A = B, và B = C, vậy bắt buộc A = C. Hoặc nói theo lối bình dân: anh Tí trông giống hệt anh Tèo, và anh Tèo trông giống hệt anh Tám, vậy anh Tí phải giống hệt anh Tám. THÍ DỤ. Nước, dầu và thủy ngân tuy là những chất khác nhau nhưng chúng đều có cùng một tánh chất đó là lỏng (chảy) - vậy tánh lỏng là mẫu số chung [common denominator] cho cả ba. Nước (hoặc dầu, hoặc thủy ngân) và tánh lỏng tuy là hai nhưng chúng luôn luôn đi đôi với nhau như một, nói đến cái này là phải có cái kia. Như vậy không có nghĩa là ta có thể kết luận nước (hoặc dầu, thủy ngân) là (=) tánh lỏng, hay tánh lỏng là (=) nước (hoặc dầu, thủy ngân.) Vì, 1/ nếu nước và tánh lỏng là một thì chúng không cần phải có hai tên gọi khác nhau, 2/ theo định đề trên, nếu cả ba đều là (=) tánh lỏng, có nghĩa là nước = dầu = thủy ngân, thì điều này hoàn toàn vô lý vì rõ ràng đây là ba chất khác nhau. Ðức Phật có giảng "Nhất Thiết Pháp Vô Ngã (tất cả các pháp đều không có tự tánh)." Hoặc nói cách khác, tất cả các pháp hình tướng có sai biệt, nhưng chúng đều cùng một mẫu số chung là tánh-Không. Xin nhắc lại, tuy tánh-Không và các pháp không phải là một, nhưng tánh-Không chẳng nằm ngoài các pháp và nếu không có tánh-Không thì các pháp chẳng thể hiện hữu. Ta dịch câu kinh trên sát theo lời: sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác sắc, sắc tức là Không, Không tức là sắc. Nhưng nghe không được ổn, và như đã bàn, ta không thể nói: sắc = (là) Không. thọ = Không, tưởng = Không, hành = Không, thức = Không. vì như vậy thì cả năm Uẩn đều là (=) Không, và sắc = thọ = tưởng = hành = thức. Bởi thế sắc, thọ, tưởng, hành, thức chẳng thể là (=) tánh Không của chúng được; mà ta phải hiểu rằng tánh-Không là mẫu số chung cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thêm một điểm đáng lưu ý. Ta có thể diễn tả sắc (vật thể) nó xanh đỏ, dài ngắn, không to không nhỏ, v.v..., cảm thọ khổ/lạc nhiều ít, tăng giảm, không tăng không giảm, v.v..., và cả năm uẩn luôn luôn biến chuyển, sinh diệt. Nhưng ta chẳng thể nói tánh-Không nó biến chuyển, dài ngắn, nhiều ít, dơ sạch, không dơ không sạch, v.v... Ðấy cũng là một lý do cho thấy tánh-Không có sự khác biệt với các pháp, tánh-Không không thể nào là (=) các pháp. Do đó ta khẳng định là nếu tìm cách chứng minh Sắc (và Thọ, Tưởng, ...) là (=) Không là một việc làm sai lầm. Chỉ còn cách lấy ý bỏ lời, ta hiểu theo ý như sau: Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc: Sắc (hiện tượng) và tánh Không (bản chất) chẳng thể phân ly. Hiện tượng và tánh-Không có sự liên hệ mật thiết với nhau. Sắc tức thị Không: sắc biểu hiện [manifest] được là nhờ tánh-Không. Nếu không có tánh-Không thì sắc không thể biến hiện, sinh diệt, nói tóm lại là sẽ không thể có sắc. Không tức thị sắc: Không (không tự tánh) là bản tánh [nature] của sắc. Sắc là nền tảng [basis] mà nhờ đó ta biết được tánh-Không. Thọ-Tưởng-Hành-Thức diệc phục như thị: Thọ-Tưởng-Hành-Thức cũng vậy. Bốn Uẩn còn lại được suy luận và hiểu cũng như Sắc Uẩn. XÁ LỢI TỬ, THỊ CHƯ PHÁP KHÔNG TƯỚNG, BẤT SANH BẤT DIỆT, BẤT CẤU BẤT TỊNH, BẤT TĂNG BẤT GIẢM. Này Xá Lợi Phất, do đặc tính không-tự-tánh của các pháp nên chúng chẳng thật sanh chẳng thật diệt, chẳng thật dơ chẳng thật sạch, chẳng thật tăng chẳng thật giảm. Tướng [appearance, mark, characteristic, sign]: đặc tính. Một sự vật được nhận biết là khác biệt với các sự vật khác qua hình tướng, đặc tính của nó. Như đã bàn ở trên, chẳng có ai diễn tả tánh lỏng nó dài ngắn, to nhỏ, hoặc không dơ không sạch, v.v.... Cũng thế, ta chẳng thể nói tánh-Không nó không sanh không diệt, không dơ không sạch, v.v... Vậy ý của đoạn kinh này -đúng ra là cả bài kinh- chẳng phải là tả về tánh-Không mà nó diễn tả đặc tính của các pháp (đều cùng một mẫu số chung: tánh-Không). Nói về tánh-Không là nói về Trung Ðạo, tức là chẳng nghiêng theo có cũng chẳng nghiêng theo không-zero, mà tất cả các pháp đều không thật có. Thế nên ta chẳng thể nói các pháp không (zero) sanh không (zero) diệt, v.v... Vì các hiện tượng sanh diệt, cấu tịnh, tăng giảm, v.v..., nói chung là tất cả các pháp, không thể tự có mà chúng phải dựa vào điều kiện mới có được, chúng hiện hữu do sự tương quan theo duyên khởi - chúng mang tánh-Không, chúng chẳng thật có. Do đó chữ "bất" phải hiểu là chẳng thật. Lại lấy ý bỏ lời, ta diễn dịch câu này như sau: Thị chư pháp Không tướng: Do đặc tính không-tự-tánh [tướng Không] của các pháp ... Bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm: ... nên chúng (các pháp) chẳng thật sanh chẳng thật diệt, chẳng thật dơ chẳng thật sạch, chẳng thật tăng chẳng thật giảm. Bản chất của các pháp (tâm và cảnh) là Không nên chúng chẳng thật có các đặc tính sinh diệt, dơ sạch, tăng giảm. Chúng ta hiện hữu và bị vướng mắc trong cõi đối đãi và vì vậy bài kinh nói đến mấy cặp đối đãi tiêu biểu. Sự tương quan giữa đối đãi và tánh-Không chẳng khác gì ngũ uẩn và tánh Không. Do tánh-Không nên mới có hiện tượng đối đãi và qua hiện tượng đối đãi ta biết được tánh-Không (đối đãi cũng chỉ là một pháp.) Ta thường nghe nói "vượt ra ngoài đối đãi," câu này dễ gây ra ấn tượng sai lầm là ta phải phủ nhận đối đãi thì mới thoát được. Đối đãi chẳng trói buộc ai cả, vượt thoát có nghĩa là tháo gỡ cái tâm phân-biệt-vướng-mắc. thỊ cỐ không trung vô sẮc, vô thỌ tưỞng hành thỨc, vô nhãn nhĩ tỴ thiỆt thân ý. Vô sẮc thanh hương vỊ xúc pháp, vô nhãn giỠi nãi chí vô ý thỨc giỚi, vô vô minh diỆc vô vô minh tẬn, nãi chí vô lão tỬ diỆc vô lão tỬ tẬn, vô khỔ tẬp diỆT đẠo, vô trí [diỆc] vô đẮc [diỆc VÔ BẤT ÐẮC]. Cũng do tánh-Không cho nên chẳng thật có sắc, chẳng thật có thọ tưởng hành thức,(5 uẩn) chẳng thật có mắt tai mũi lưỡi thân ý, (6 căn) chẳng thật có sắc thanh hương vị xúc pháp, (6 trần) chẳng thật có nhãn giới cho đến ý thức giới cũng chẳng thật có, (6 thức) chẳng thật có vô minh cũng chẳng thật có hết vô minh, cho đến già chết và hết già chết cũng chẳng thật có, (12 nhân-duyên) chẳng thật có Khổ Tập Diệt Ðạo, (4 diệu-đế) chẳng thật có trí, chẳng thật có đắc, cũng chẳng thật có không-đắc. "... Không trung vô sắc vô ..." dịch thẳng ra là "trong tánh-Không chẳng có sắc, chẳng có ....". Nhưng ta đã xác định là chẳng thể diễn tả tánh-Không nó dơ sạch, tăng giảm, có hay không có sắc, v.v... Ngoài ra, nếu cho rằng tất cả các hiện tượng đều không (zero) có, thế tại sao chúng lại có tên gọi riêng, vả lại bàn luận về những thứ mà không hề có để làm gì? Cho nên chữ "vô" ở đây hiểu theo tánh-Không nghĩa là không thật có. Thị cố Không trung: Cũng do tánh-Không cho nên ... [lại lấy ý bỏ lời] Vô sắc, vô thọ tưởng ... vô ý thức giới ...: chẳng thật có sắc, chẳng thật có thọ tưởng ...chẳng thật có ý thức giới ... Không thật có ngũ Uẩn, không thật có sáu căn, không thật có sáu Trần, không thật có sáu Thức vì chúng không tự sinh khởi được mà phải dựa vào điều kiện. Phân tích sáu căn, sáu trần và sáu thức (mười tám giới) riêng biệt hoặc theo sự tương quan nội tại [inner] và ngoại tại [outer] đều cho thấy sự sinh diệt một cách máy móc [mechanical] của chúng, do đó chúng mang tánh-Không. Vô vô-minh, .... diệc vô lão tử tận: chẳng thật có vô-minh .... chẳng thật có hết lão tử. Không hiểu tiến trình của Mười hai NhânDuyên nên ta bị cuốn xoáy trong vòng kiềm toả của nó, và lẩn quẩn tái sanh trong cõi tabà từ vô thủy. Tuy nhiên 12-ND biến chuyển theo điều kiện, cái này điều kiện cái kia, chúng điều kiện lẫn nhau nên chúng không tự có. Nếu vô-minh, v.v... thật có [truly exists] thì sẽ mãi mãi vô-minh, chẳng thể thay đổi gì được. Vô Khổ Tập Diệt Đạo: Khổ và thoát khổ cũng đều có nguyên do và điều kiện, thế thì Tứ Diệu Đế cũng không thật có. Vô trí, vô đắc, vô bất đắc: ... chẳng thật có trí, chẳng thật có đắc, chẳng thật có không-đắc. Nếu trí huệ tự nó có sẵn thì ta đã chẳng bị vô minh và cũng chẳng cần phải giải quyết cái khổ, chẳng cần phải tu tập. Những yếu tố như tu tập, nỗ lực là điều kiện dẫn đến trí-huệ, để đạt được (đắc) các quả vị, bởi vậy cái trí và cái đắc đó là những thành quả phải hội đủ nhân duyên mới gặt hái được - chúng không thật có. (Vô bất đắc được ghi trong bản Phạn văn, nhưng không thấy trong bản Hán văn) Cái không-đắc cũng là do những yếu tố như lười biếng, thiếu chuẩn bị gây ra, bởi vậy nó không thể tự có; mà nếu nó tự có thì tu tập vô ích, sẽ chẳng đi đến đâu. DĨ VÔ SỞ ÐẮC CỐ, BỒÐỀ TÁTÐOẢ Y BÁTNHÃ BALAMẬTÐA CỐ, TÂM VÔ QUÁI NGẠI, VÔ QUÁI NGẠI CỐ, VÔ HỮU KHỦNG BỐ, VIỄN LY ÐIÊN ÐẢO MỘNG TƯỞNG, CỨU CÁNH NIẾTBÀN. Vì chẳng thật có cái để đắc, nên Bồtát thực hành (nương) theo Bátnhã Balamậtđa thì tâm không còn ngăn ngại; vì không bị ngăn ngại nên không còn kinh sợ, xa lìa được các điên đảo mộng tưởng, và cuối cùng đạt đến Niếtbàn. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, ...: Vì chẳng thật có cái để đắc, nên Bồtát thực hành (nương) theo Bátnhã Balamậtđa thì tâm không còn ngăn ngại ... Nếu khổ, vô-minh, trí, đắc, điên đảo mộng tưởng, quái ngại, v.v... đều không(zero) có, thế thì tại sao Bồtát lại phải nương tựa vào Bátnhã Balamật -mà chính nó cũng không có- để tu tập? Điều này không hợp lý. Bởi vậy, phải hiểu là chúng không thật có, không tự có. Như đã luận ở trên, cái đắc không tự có mà phải nhờ nhân duyên mới xảy ra được. Trong trường hợp này, tâm không ngăn ngại cũng phải phụ thuộc ở điều kiện mà thành, bởi vậy Bồtát phải nương theo Bátnhã Balamậtđa. Những ô nhiễm (tham-sân-si, vô-minh) là những chướng ngại, làm tâm giao động, phiền não. Vì ô nhiễm không thật có nên mới có thể tẩy trừ chúng được, và muốn tẩy trừ tận gốc rễ thì phải thấu triệt tánh-Không, bằng cách thực hành, nương theo BátNhã Balamậtđa. Vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, ...: vì không bị ngăn ngại nên không còn kinh sợ, ... Khởi tâm phân biệt do tham-sân-si và vô-minh thúc đẩy thì sẽ bị vướng mắc, ngăn ngại, cũng vì không hiểu rằng tất cả các pháp cùng mang tánh-Không, chúng đều bình đẳng như nhau. Nhưng khi không bị ngăn ngại tức là có sự sáng suốt, thì sẽ không còn kinh sợ. Chẳng hạn như khi thấy rõ (trí-huệ) con rắn chỉ là sợi dây thừng thì tất cả sự sợ hãi đều tiêu tan. Tâm không ngăn ngại là điều kiện để trừ sự kinh sợ. Theo các thầy TâyTạng, nếu không hiểu tánh-Không mà lại nghe giảng là vạn hữu đều không có ngã thì đâm hoảng sợ, bởi vậy khi thực hành và thông suốt (không bị ngăn ngại) tánh Không rồi thì không còn sự kinh sợ này nữa. Viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh niết bàn: xa lìa được các điên đảo mộng tưởng, và cuối cùng đạt đến Niếtbàn. Tâm không bị ngăn ngại và kinh sợ (có sự sáng suốt) thì sẽ xa lìa được các điên đảo mộng tưỏng. Ðiên đảo mộng tưởng (vô-minh hay tà kiến) nghĩa là sự hiểu biết bị đảo lộn, sai lầm: sự vật vô-thường mà cho là thường, không hiểu không tin nhân-quả và duyên-khởi, sự vật vô-ngã mà cho là có ngã. Niết bàn là trạng thái đối nghịch với điên đảo mộng tưởng, đó là trạng thái không còn tham-sân-si và vô-minh. Bởi vậy, xa lìa điên đảo mộng tưởng là điều kiện để tiến đến Niết bàn - nếu Niết bàn vốn sẵn có thì ta đã không bị điên đảo mộng tưởng và không cần phải tu tập. Xin lưu ý là điên đảo mộng tưởng và Niết bàn đều mang tánh-Không như tất cả các pháp khác. TAM THẾ CHƯ PHẬT Y BÁTNHÃ BALAMẬTÐA CỐ ÐẮC ANẬUÐALA TAMMIỆU TAMBỒÐỀ Các vị Phật quá khứ, hiện tại và tương lai nương theo Bátnhã Balamậtđa nên đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Anậuđala: vô thượng - không có gì cao hơn [supreme]. Tammiệu: chánh đẳng - toàn hảo [completely perfected - enlightenment]. Tambồđề: chánh giác - toàn giác [fully awaken]. Tammiệu Tambồđề: chánh biến tri. Quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vốn không tự có và điều kiện để đạt được là thực hành Bátnhã Balamậtđa. CỐ TRI BÁTNHÃ BALAMẬTÐA, [THỊ ÐẠI THẦN CHÚ,] THỊ ÐẠI MINH CHÚ, THỊ VÔ THƯỢNG CHÚ, THỊ VÔ ÐẲNG ÐẲNG CHÚ, NĂNG TRỪ NHẤT THIẾT KHỔ, CHÂN THỰC BẤT HƯ. CỐ THUYẾT BÁTNHÃ BALAMẬTÐA CHÚ, TỨC THUYẾT CHÚ VIẾT: Bởi vậy nên biết rằng Bátnhã Balamậtđa [là đại thần chú,] là đại minh chú, là vô thượng chú, thuộc hạng vô song chú, có thể tiêu trừ được tất cả khổ đau. Thật đúng như thế, chẳng thể sai lầm. Cho nên (Quánthếgian Bồtát) thuyết Bátnhã Balamậtđa chú, (Ngài) thuyết rằng: gate - gate - paragate - parasamgate - bodhi - swaha đi qua - đi qua - đi qua bờ bên kia - qua đến bờ bên kia - bừng tỉnh - viên mãn "Chú" dịch từ tiếng Phạn là mantra. "Mana" là tâm, "tra" là bảo vệ, "mantra" nghĩa là bảo vệ tâm. BátNhã Balamậtđa (tánh-Không) là câu chú kỳ diệu bảo vệ tâm bằng cách tận trừ vô-minh, gốc rễ của khổ đau, và như vậy tất cả khổ đau đều bị tiêu trừ. Bởi thế chẳng có câu chú nào sánh kịp. "Đại thần chú" không thấy ghi trong bản Phạn văn. "Đại minh chú": câu chú dẫn đến sự thấu triệt [deep insight] về tánh-Không. "Minh" đối nghịch với "vô-minh". "Vô thượng chú": không có chú nào hơn được - vì Bátnhã Balamậtđa dẫn đến sự chứng ngộ toàn triệt. "Vô đẳng đẳng chú": thuộc loại ngoại hạng - vì mang tính cách xuất thế gian nên nó thuộc hạng "không hạng". "Năng trừ nhất thiết khổ": khi trực nhận được tánh-Không của vạn pháp, ngay lúc đó cũng sẽ trực nhận được không thật có khổ và không thật có người chịu khổ. =Câu chú trên gồm có bốn bước hay bốn giai đoạn tu tập. Có hành giả luận theo kiến giải của họ như sau: Gate: (giai đoạn 1) vượt qua tất cả những gì thuộc về hữu vi [the conditioned]. Gate: (giai đoạn 2) vượt qua tất cả những gì thuộc về vô vi [the un-conditioned]. Paragate: (giai đoạn 3) vượt qua sự phân biệt về hữu vi và vô vi. Parasamgate: (giai đoạn 4) vượt qua tất cả mọi khái niệm [conceptual thoughts]. Bodhi: giác ngộ. =Bài giải thích của HuyềnThanh (*): Gate: vượt qua Kiến Hoặc (sự sai lầm của cái thấy, cái hiểu biết). Gate: vượt qua Tư Hoặc (sự sai lầm của ý tưởng). Paragate: dứt trừ Lậu Hoặc (phiền não). Parasamgate: dứt trừ Vô Minh Hoặc (sự lầm lạc phát sinh từ tâm vô-minh). Bodhi: chứng đắc Phật Trí. Svaha: đem lại sự an lành cho tất cả chúng sinh. =Sau đây là luận giải của các thầy TâyTạng: Gate: giai đoạn thâu thập [accumulation] gồm có Văn (học hỏi) và Tư (suy nghiệm). Gate: giai đoạn chuẩn bị [preparation] là Tu (thực hành) - thiền chỉ và thiền quán. Paragate: giai đoạn kiến giác [seeing], đây là lúc trực nhận được tánh Không nhưng chỉ được nhất thời. Parasamgate: giai đoạn thiền [meditation], lúc này hành giả có thể thường xuyên duy trì được kiến giác tánh Không. Bodhi: giai đoạn vô học [non-learning] - giác ngộ. Ta có thể hiểu rộng luận giải TâyTạng như sau. Bước vào trình độ bátnhã là đã qua phần căn bản và bắt đầu đi vào tánh-Không. Bước thứ nhất (gate) là giai đoạn học hỏi và suy nghiệm về tánh-Không. Bước thứ nhì (gate) là giai đoạn thiền chỉ và thiền quán về tánh-Không. Bước thứ ba (paragate) bắt đầu trực nhận được tánh-Không. Bước thứ tư (parasamgate) bắt buộc phải là lúc "hành thâm bátnhã", giai đoạn thực hành sâu xa về trí-huệ tánh-Không; là lúc ở trạng thái thường xuyên trong kiến giác tánh-Không của vạn pháp. Vị trí của Trí huệ Balamật: Bài kinh này nói về Trí-huệ (bátnhã) Balamật, một trong sáu Balamật. Sáu Balamật cũng là những thành phần trong Bát Chánh Ðạo được nói khác đi - nhóm Giới (bố thí, trì giới, nhẫn nhục), nhóm Thiền (tinh tấn, định,) và nhóm Huệ (huệ - trí-huệ balamật); bởi vậy trí huệ balamật chỉ là một yếu tố trong toàn bộ con đường tu tập. Đồng thời ta cần nên biết rằng huệ balamật phải có mặt trong tất cả các balamật khác, và ở một giai đoạn nào đó trên con đường tu tập, ta cần phải chú trọng đến nó nhiều hơn. Kết Luận: Do cái nhìn sai lạc [mistaken perception], chúng ta thấy sự vật (các pháp [phenomena]) không đúng như nó là - sự vật không hiện hữu đúng như chúng ta cảm nhận. Vì thế chúng ta chấp chặt vào chúng, cho chúng là thật có, tự có; cho rằng chúng có tự tánh [inherent nature] / ngã [independent, unchanging self]. Tuy thấy có hiện tượng cầu vồng và trăng sông, nhưng khi đến tận nơi để khảo sát, thay vì phải thấy chúng rõ ràng hơn thì ngược lại, ta lại chẳng thấy chúng đâu, ta chẳng nắm bắt được một cái gì cụ thể cả. Tất cả các hiện tượng vật chất lẫn tinh thần cũng thế (♦), ta chẳng thể nói là chúng thật có hay không có (zero.) Bởi thế chẳng có gì phải lấy (cho là thật có,) chẳng có gì phải bỏ (cho là không-zero;) lấy và bỏ đều là những hình thức bám chấp [attachment.] Từ đầu đến cuối, bài kinh nhấn mạnh một điểm: chỉ có một pháp duy nhất ta cần phải nhận diện và bác bỏ đó là tự tánh / ngã. (♦) Bao gồm những đề tài (đặc tính, hình tướng, khái niệm) quan trọng được nêu lên trong bài kinh: Năm uẩn, đối đãi, sáu căn, sáu trần, sáu thức, mười hai nhân duyên, tứ diệu đế, trí, đắc, không-đắc. Các đề tài được liệt kê trong bài kinh không phải là để ta "quét," "triệt phá," hay phủ nhận chúng, mà chúng chính là những đối tượng để ta quán chiếu tánh-Không (◊); vì, một lần nữa, cũng như đi tìm tánh lỏng ngoài nước (và dầu, thủy ngân), ta sẽ không thể hiểu hay tìm được tánh-Không ngoài các hiện tượng này. (◊) Những đề tài để quán chiếu này đều nằm trong bốn lãnh vực quán niệm -Thân-Thọ-Tâm-Pháp- của pháp thiền Tứ Niệm Xứ. // Ta thường được nhắc nhở là "qua sông bỏ bè (bè -Phật Pháp- chỉ là phương tiện đừng nên bám chấp)." Lời khuyên bảo này có vẻ dư thừa và không được thực tế vì: 1/ Ta đang ở giữa giòng sông hay có khi còn chưa bước chân xuống bè. 2/ Những kẻ đã qua sông rồi (đã đắc đạo) chắc chắn họ không cần chúng ta, những kẻ còn mịt mù trong vô-minh, khuyên bảo họ. 3/ Lấy một thí dụ khác, ta đi theo một con đường nào đó để đến một hòn núi. Và khi đến chân núi hoặc đã leo lên đỉnh núi rồi, ta không cần phải lo vứt bỏ con đường, vì có muốn vác nó theo cũng không thể được. 4/ Khi đã qua sông rồi (thâm nhập được tánh Không) thì như đã bàn, lúc đó sông tánh Không, bè tánh Không, bờ bên kia tánh Không, kẻ qua sông tánh Không - thế thì ai phải bỏ và phải bỏ cái gì? // Thực hành: O Các pháp (đề tài) liệt kê trong bài kinh là những đối tượng để quán sát. O Các định luật Vô thường (VT), Nhân quả (NQ), Duyên khởi (DK) là những dụng cụ dùng để phân tích. O Và định lực là cái đèn pha làm sáng rõ đối tượng để ta dễ dàng quán sát. Sự liên hệ giữa bốn định luật tương tự như một cái bàn ba chân: VT, NQ, DK là chân bàn và tánh-Không là mặt bàn. Vậy muốn đi vào tánh-Không ta phải thông suốt các định luật VT, NQ, và DK - chúng là con đường dẫn đến tánh-Không. [xem chương sáu] Sau đây ta hãy xem sơ lược 2 cách thức tu tập để có chút ít khái niệm về pháp thiền tánh Không. _ Pháp thiền tánh Không TâyTạng: ta quán chiếu các đề tài được đề cập trong bài kinh qua các định luật VT, NQ và DK cho đến khi nổi lên cảm giác chúng chỉ là mộng huyễn, ảo ảnh, không nắm bắt được, thì ta ngưng quán và định trong cảm giác đó. Tùy theo định lực của ta, nếu định lực mạnh thì ta duy trì cảm giác mộng huyễn, ảo ảnh này lâu hơn. Đến khi cảm giác này mờ nhạt rồi, ta ngưng định và xoay qua quán trở lại, rồi lại tiếp tục định. _ Pháp thiền Minh sát bên NguyênThủy: theo cách thức cổ xưa, ta tập thiền chỉ trước cho đến khi có một định lực vững chắc (lý tưởng là Tứ thiền.) Sau đó ta bước vào thiền Minh sát, quán sát các hiện tượng tinh thần và vật chất xuyên qua VT, NQ và DK (Khổ ngầm ẩn sau các định luật này) cho đến khi thấy rõ sự hiện hành của các định luật trong từng sátna (định lực yếu thì không thể bắt được sátna.) Đó là lúc ta nhận biết được tánh-Không (vô-ngã,) tức là trực nhận được rằng không có một cái cốt lõi độc lập, bất biến nào đằng sau vạn pháp. LƯU Ý: Kinh điển thường nói thẳng vào "đáp số" mà không chỉ ta phương pháp để nắm được đáp số. Chẳng hạn như đừng bám chấp hãy xả bỏ, hãy quán các pháp chỉ là ảo huyễn, v.v... Thật ra những đáp số này cũng tràn ngập trong kinh sách Bàlamôn (Ấnđộ Giáo) và đạo Lão. Điểm quan trọng là ở lý do tại sao ta có vấn đề và phương pháp giải quyết vấn đề.
0ooo0ooo0
(*) http://www.tinhluattemple.org/
BÁT NHÃ BALAMẬTÐA TÂM KINH
QuánTựTại Bồtát khi thực hành sâu xa về Trítuệ tánh Không thì trực nhận được ngũ Uẩn đều không có tự tánh [nhờ đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn]. Này Xá Lợi Phất, Sắc và tánh Không chẳng thể phân ly, Sắc biểu hiện được là nhờ tánh Không và Không chính là bản tánh của Sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức và tánh Không chẳng thể phân ly, Thọ, Tưởng, Hành, Thức biểu hiện được là nhờ tánh Không và Không chính là bản tánh của Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Này Xá Lợi Phất, do đặc tính không-tự-tánh của các pháp nên chúng chẳng thật sanh chẳng thật diệt, chẳng thật dơ chẳng thật sạch, chẳng thật tăng chẳng thật giảm. Cũng do tánh Không cho nên chẳng thật có sắc, chẳng thật có thọ tưởng hành thức, (5 uẩn) chẳng thật có mắt tai mũi lưỡi thân ý, (6 căn) chẳng thật có sắc thanh hương vị xúc pháp, (6 trần) chẳng thật có nhãn giới cho đến ý thức giới cũng chẳng thật có, (6 thức) chẳng thật có vô minh cũng chẳng thật có hết vô minh, cho đến già chết và hết già chết cũng chẳng thật có, (12 nhân duyên) chẳng thật có Khổ Tập Diệt Ðạo, (4 diệu đế) chẳng thật có trí, chẳng thật có đắc, [cũng chẳng thật có không-đắc]. Vì chẳng thật có cái để đắc, nên Bồtát thực hành (nương) theo Bátnhã Balamậtđa thì tâm không còn ngăn ngại; vì không bị ngăn ngại nên không còn kinh sợ, xa lìa được các điên đảo mộng tưởng, và cuối cùng đạt đến Niếtbàn. Các vị Phật quá khứ, hiện tại và tương lai nương theo Bátnhã Balamậtđa nên đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bởi vậy nên biết rằng Bátnhã Balamậtđa [là đại thần chú,] là đại minh chú, là vô thượng chú, thuộc hạng vô song chú, có thể tiêu trừ được tất cả khổ đau. Thật đúng như thế, chẳng thể sai lầm. Cho nên [QuánTựTại Bồtát] thuyết Bátnhã Balamậtđa chú, [Ngài] thuyết rằng: Gate, gate, paragate, parasamgate, bodhi, swaha. Nguồn: Sưu tầm
Tin mới hơn:
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
Tin cũ hơn:
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
- ()
|